Nghiên cứu thực trạng dinh dưỡng và kết quả nuôi dưỡng nhân tạo tại khoa hồi sức cấp cứu BV nhi tư - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

BÙI THỊ THO

NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG DINH DƯỠNG
VÀ KẾT QUẢ NUÔI DƯỠNG NHÂN TẠO TẠI KHOA
HỒI SỨC CẤP CỨU BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC

HÀ NỘI – 2014


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

BỘ Y TẾ

BÙI THỊ THO

NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG DINH DƯỠNG
VÀ KẾT QUẢ NUÔI DƯỠNG NHÂN TẠO TẠI KHOA
HỒI SỨC CẤP CỨU BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG
Chuyên ngành: Nhi khoa
Mã số: 60720135

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC


: Parenal nutrition(nuôi dưỡng tĩnh mạch)

PEE

: Predicted energy expenditure (năng lượng tiêu hao ước tính)

BMR

: Basal metabolic rate(năng lượng chuyển hóa cơ bản)

EE

: Energy Expended (năng lượng tiêu hao)

NC

: Nghiên cứu

CC

: Chiều cao

CN

: Cân nặng

VCT

: Vòng cánh tay

nặng[6].
Tại Việt Nam đã có rất nhiều các nghiên cứu về dinh dưỡng nhưng các
nghiên cứu về dinh dưỡng lâm sàng còn ít. Đặc biệt chỉ có số lượng rất nhỏ
nghiên cứu dinh dưỡng cho bệnh nhân nặng. Theo báo cáo của Ngô Quốc


2

Huy và cộng sự (2012) cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng ở người lớn nằm tại
khoa điều trị tích cực là 65%[9].
Theo kết quả nghiên cứu về dinh dưỡng lâm sàng tình trạng dinh dưỡng
(TTDD) bệnh nhi nội trú bị bệnh cấp tính ở Bệnh viện Nhi Đồng 1 năm 2007:
SDD thể nhẹ cân (Cân nặng/tuổi): là17,5%. SDD thấp còi (chiều cao/tuổi) là
11,6%. SDD cấp tính (cân nặng/chiều cao) là 9,3%[10]
Tại Bệnh viện Nhi Trung Ương(BVNTW) Năm (2010) có 13% trẻ
dưới 5 tuổi bị viêm phổi điều trị nội trú tại BVNTW bị SDD tỷ lệ cao nhất
ở trẻ 13-26 tháng tuổi và thời gian điều trị nội trú của nhóm trẻ SDD dài
hơn 2,1 ngày so với trẻ thường (8,3 ngày so với 6,2 ngày) và có 3% trẻ tử
vong tại BVNTW và tất cả BN này đều bị SDD [10] . Chưa có nghiên cứu
nào về nuôi dưỡng nhân tạo cho bệnh nhân nhi nặng cũng như về tỷ lệ
SDD tại khoa Hồi sức cấp cứu.
Dinh dưỡng có vai trò như thế nào đối với kết quả điều trị bệnh nhân và
việc áp dụng các chế độ nuôi dưỡng cho bệnh nhân đã được quan tâm đúng
mức hay chưa là một điều trăn trở. Vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên
cứu thực trạng dinh dưỡng và hiệu quả nuôi dưỡng nhân tạo tại khoa hồi
sức cấp cứu bệnh viện Nhi Trung ương” với 2 mục tiêu:
1.

Xác định nguyên nhân và tỷ lệ suy dinh dưỡng ở các bệnh nhi nặng
tại khoa hồi sức cấp cứu Bệnh viện Nhi Trung ương

bò, trà ; sữa kế hợp trứng và cháo khoai tây; sữa nấu với nho và rượu
whiskey. Các nguyên liệu làm ống dẫn gồm ống cứng và mềm, các ống dẫn
ngày càng mềm hơn đề đưa thức ăn vào dạ dày ruột.


4

Sự phát triển ở thế kỷ 20
Năm 1910, Einhorn thực hiện thí nghiệm đưa thức ăn trực tiếp vào
ruột non.
Cùng thời gian đó Loewi và Abderhalden đã thử nghiệm trên chó bằng
cách cho chúng ăn sản phẩm protein thủy phân và duy trì cân bằng ni tơ. Các
protein này có thể dễ tiêu hóa và hấp thu và là sáng kiến có thể phát triển về
sau của công thức protein thủy phân cơ bản.
Đáng chú ý là các phát minh về kỹ thuật nuôi ăn thực hiện ở thời
gian này hướng về phát triển các dịch nuôi dưỡng mới. Ravdin, Abbott,
Lawson, Cuthbertson, và những người khác đã tìm kiếm các phương pháp
nuôi ăn đưa dịch vào hỗng tràng một cách an toàn và hiệu quả hơn.
Rose đã tìm hiểu nhu cầu và tính thiết yếu cuả acid amin trên chuột và
sau đó áp dụng trên người. Các kết quả của Rose về tính thiết yếu của acid
amin đã cung cấp thời gian cũng như sự phân bố của nó trong thành phần nuôi
dưỡng đường ruột và tĩnh mạch.
Trong suốt những năm 1930 các phát minh vế công thức nuôi ăn
đường ruột được thực hiện khi protein thủy phân được sử dụng cho bệnh nhân
phẫu thuật. Stengel và Ravdin sử dụng dịch thủy phân casein (váng sữa được
chế biến vời acid, pesin, natriclorua, natri bicarbonat, dextrose, và một số
vitamin) cho bệnh nhân ăn qua hỗng tràng.
Trước những năm 1940 các ứng dụng về nuôi ăn đường ruột(EN) đã
được triển khai. Một công thức nuôi ăn cho trẻ sơ sinh chế biến từ protein
thủy phân, dầu ngũ cốc, dextrimaltose, vitamin và muối khoáng dành cho trẻ

dưỡng hi vọng rằng các công thức nuôi dưỡng có thể làm tăng khả năng miễn
dịch một cách đáng kể. Các loại ống nuôi ăn mới có nhiều chức năng như


6

chức năng bơm và các loại chức năng khác đã phát triển để làm cho việc nuôi
ăn qua đường ruột dễ hơn và an toàn hơn.
Từ thời Hipocrates và người Ai Cập, Hy Lạp cổ đại, cách tiếp cận với
nuôi ăn bệnh nhân, tình trạng nuôi dưỡng qua đường ruột cho bệnh nhân trong
những năm đầu thế kỷ 21, chúng ta sẽ tiến xa hơn nhưng vẫn có chỗ cải thiện
và phát triển. chúng ta chỉ có thể nghiên cứu về những thứ mà tương lai trong
tay như các xét nghiệm chỉ điểm dẫn tới sự thành công của EN[11].
1.1.2. Lịch sử nuôi dưỡng tĩnh mạch
Khái niệm nuôi dưỡng qua đường tĩnh mạch ngoại vi lần đầu tiên được
mô tả vào năm 1945 bởi Brunschwig và cộng sự, những người đã nuôi dưỡng
tĩnh mạch ở một bệnh nhân với nhiều đường rò, trong 8 tuần sử dụng đạm đã
được thủy phân và đường Glucose10%. Khi Wretlind lần đầu tiên giới thiệu
sản phẩm dịch truyền acid amin và dịch béo nhũ tương của ông, ông và
Schubert đã sử dụng đường truyền ngoại vi vào những năm 1950 và 1960.
Khi Drudrick giới thiệu thức ăn bổ dưỡng vào năm 1968, dinh dưỡng tĩnh
mạch ngoại vi đã được xem như loại dinh dưỡng năng lượng thấp. TPN chỉ
sẵn sàng từ 1968. Từ đó tới nay qua nhiều nghiên cứu và thử nghiệm các vấn
đề vitamin, yếu tố vi lượng, các điện giải trong các nhũ tương chất béo và các
giải pháp của các acid amin và glucoza, nhiều loại chế phẩm ra đời và được
áp dụng rộng rãi ở nhiều nơi trên thế giới. Tuy nhiên ở nước ta do các chế
phẩm này có giá thành còn cao, đồng thời đòi hỏi phối hợp các trang thiết bị,
kỹ thuật khác như đặt catheter TMTT, các XN sinh hóa, máy tiêm
truyền,…cũng như việc theo dõi các biến chứng trong quá trình nuôi dưỡng.
Bởi vậy việc áp dụng TPN chỉ thực hiện được ở những nơi có điều kiện và

thể đặc biệt là gan và thận không chỉ ảnh hưởng tới dinh dưỡng của bệnh nhân
mà còn ảnh hưởng tới chuyển hóa của các thuốc điều trị.


8

Ở mức độ tế bào, đại thực bào và các bạch cầu đa nhân tiết các peptide
như các cytokine, interleukin 1 và yếu tố hoại tử u[16][17]. Các đáp ứng với
stress này làm tăng catecholamines, aldosterone, antidiuretic hormone,
glucocorticoids, insulin and glucagon [18]. Mặc dù insulin tăng nhưng lượng
đường màu thường tăng do dung nạp đường thường xuyên xuất hiện vì có sự
tham gia của các hormon điều hòa đường huyết khác gồm alanine, glutamine và
các aminoacid được huy động từ cơ và sự tổng hợp glucose và ure từ gan. Lipid
cũng được phân hủy và làm tăng ceton. Hầu hết trẻ bị bệnh nặng có cân bằng ni
tơ âm do dị hóa protein nhiều hơn tổng hợp. Hậu quả là làm giảm nhanh các
khối cơ trong cơ thể. Đặc biệt với trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ thi điều này lại càng dễ
dàng xảy ra. Bản thân cơ thể đã thiếu và nhu cầu cơ thể lớn hơn là vấn đề lớn.
Một chế độ ăn nhiều protein không thể hạn chế được các vấn đề này nhưng có
thể làm tăng đồng hóa và làm cho trẻ bị bệnh nặng tiếp tục phát triển[19].
Nhu cầu năng lượng của trẻ em bị bệnh nặng phụ thuộc vào các loại
stress. Vì vậy để cung cấp một năng lượng tối ưu cho nhóm trẻ này nên kết hợp
với các hệ số của từng loại stress. Mô hình về nhu cầu năng lượng sẽ được tính
theo từng loại bệnh và tùy từng cơ thể bệnh mà có các chế độ ăn riêng nhưng
cũng được điều chỉnh tùy theo thời gian.
1.2.2. Nguyên lý chung:
Những năm gần đây trẻ bị bệnh nặng nhận dinh dưỡng từ năng lượng tiêu
hao ước tính(PEE) ngoại suy. Mục đích là tính được số calo lớn nhất để phục vụ
cho tăng chuyển hóa và trạng thái stress giúp trẻ vượt qua được giai đoạn bệnh
này. Trong các nghiên cứu nhu cầu năng lượng thực được đo bằng nhiệt lượng
gián tiếp(IC) cho thấy PEE tính được vượt quá calo cần thiết. vì vậy hiện nay




11

dưỡng, liên quan chặt chẽ với lượng protein khẩu phần, là chỉ số tiên lượng có
giá trị trên bệnh nhân. Khi nồng độ dưới 20mg/dL được coi là dấu hiệu thiếu
dinh dưỡng [25].
Phân loại suy dinh dưỡng:
Có rất nhiều cách phân loại suy dinh dưỡng được trình bày trong bảng
sau [27]:
Bảng 1.2. Phân loại suy dinh dưỡng
Phân loại theo
Gomez
Nhẹ(độ 1)

Waterlow

Định nghĩa

Phân độ

Cân nặng của
trẻ so với cân
nặng
trung Trung
bình
theo bình(độ 2)
tuổi(tính theo
Nặng (độ 3)
tỷ lệ %)


So sánh cân
Trung bình
nặng theo
chiều cao trung
bình theo tuổi
Nặng

Z score
bản(BMR) (kcal/ngày)cho trẻ nhỏ hơn 3 tuổi
Nguồn
WHO
Schofield (W)
Schofield (WH)

Giới

Phương trình

nam

REE = 60.9×w - 54

Nữ

REE = 61 × w - 51

Nam

BMR = 59.48 ×w – 30.33

Nữ

BMR = 58.29×w – 31.05

Nam

BMR = 0.167×w +1517.4 ×h – 617.6


Nữ

REE = 22.4 × w +499

Nam

BMR = 22.7 ×w+505

Nữ

BMR = 20.3×w+486

Nam

BMR = 19.6×w +130.3 ×h+414.9

Nữ

BMR = 16.97×w+161.8×h+371.2

Nam

REE=66.47+13.75×w+5×h – 6.76×tuổi

Nữ

REE =655.1+9.56×w+1.85×h – 4.68×tuổi

WHO



BMR = 17.7×w+659

Nam

BMR = 16.25×w +137.2 ×h+515.5


14

Harris-Benedict

Nữ

BMR = 8.365×w+465×h+200

Nam

REE=66.47+13.75×w+5×h – 6.76×tuổi

Nữ

REE =655.1+9.56×w+1.85×h – 4.68×tuổi

(b) Nhiệt lượng gián tiếp (IC): biểu thị kết quả chuyển hóa là phương
pháp phổ biến nhất để tính nhu cầu calo cho bệnh nhân nhi trong các đơn vị điều
trị tích cực. Nó được tính từ lượng oxi tiêu thụ và lượng CO2 sản xuất ra của cơ
thể. Năng lượng này đủ cho cơ thể dùng để chuyển hóa [28]
Năng lượng tiêu hao (EE) = 3.586VO2 + 1.443 VCO2 – 21.5
VO2 = Oxygen tiêu thụ, VCO2 = Carbon dioxide sản sinh

Đa chấn thương, bỏng

1.20 - 1.55

Năng lượng tiêu hao = BMR x 1.35 x hệ số stress


15

1.3.5. Thành phần các chất dinh dưỡng

y:

Trong khi các phương pháp đưa ra các hướng dẫn chung thì một phương
pháp khác khuyên nên cung cấp đủ năng lượng cho bệnh nhân để cải thiện triệu
chứng lâm sàng, phục vụ cho việc tăng cân, đảm bảo cân bằng ni tơ dương tính
được chỉ định cho bệnh nhân đo được khối cơ và lớp mỡ dưới da[30].
Các chất dinh dưỡng vào cơ thể có nhiều chức năng như: protein có chức
năng cấu thành cơ thể, glucid và lipid có chức năng cung cấp năng lượng,
vitamin, muối khoáng và các nguyên tố hiếm có chức năng bảo vệ, miễn dịch.
Mục đích chính của nuôi dưỡng là tăng cân phục hồi lại lượng protein đã mất, số
năng lượng này có thể được nhận từ nguồn carbohydrate and chất béo. Trong
một chế độ ăn cân bằng tỷ lệ protid, glucid và lipid là 15:50:35. Cung cấp protein
tối ưu là có ít nhất 150 calo từ nguồn năng lượng không phải protein / 1 gam
nitrogen cung cấp. Trong trường hợp dị hóa con số này có thể tăng 250 – 300
calo từ nguồn không phải do protein cung cấp/1gam nitrogen. Nhu cầu này khác
nhau tùy theo lứa tuổi của bệnh nhân, mức độ nặng của bệnh và bệnh lý mắc
trước đó.[31]. Các hướng dẫn rộng về nhu cầu năng lượng và thành phần các yếu
tố đa lượng khác nhau theo lứa tuổi được trình bày trong bảng sau:
Bảng 1.8: Năng lượng và thành phần dinh dưỡng theo lứa tuổi


Lipids: Nên cung cấp 15-30% số calo từ lipid để hạn chế dị hóa cơ.
Chúng ta có thể cung cấp triglycerid chuỗi trung bình theo đường uống. Các chất
béo từ thực vật dung nạp tốt hơn ở bệnh nhân ốm nặng. Một số lượng nhỏ dầu từ
cây hoa rum hay dầu đậu nành hoặc dầu dừa (0.5 gm/kg/ngày) không đủ cung
cấp năng lượng nhưng lại cung cấp các triglycerid chuỗi trung bình dễ hấp thu.


17

Acid béo có chứa Omega 3 trong dầu cá không chỉ cung cấp năng lượng mà còn
có giá trị miễn dịch cho cơ thể.
Một số ít thể tích chất béo có thể cung cấp một nguồn năng lượng cao và
tỷ lệ R/Q phù hợp với bệnh nhân nặng vì đây là nhóm bệnh nhân thường suy hô
hấp và cũng có thể bài tiết nước. Các lipid cung cấp qua đường tĩnh mạch là
cung cấp các triglycerid kết hợp với phospholipid. Tuy nhiên hầu hết các dung
dịch lipid này chứa nhiều phosphlipid hơn triglycerid, các phospholipid quá giới
hạn này sẽ trở thành các hạt mỡ. Dung dịch lipid 10% cung cấp nhiều gấp 2 đến
4 lần số hạt mỡ so với dung dịch 20%. Các hạt mỡ dư thừa này sẽ được phân
nhỏ tại các vị trí mang lipase.Từ đây các dịch giàu hạt mỡ này được dung nạp và
làm tăng triglycerid và phospholipid máu. Dung dịch lipid 20% với số lượng ít
các phospholipid dung nạp tốt hơn so với dung dịch lipid 10%. Trong một số
năm gần đây dung dịch lipid 10% cũng đã được làm giảm phospholipid để dung
nạp tốt hơn.
Lipid nên được truyền với liều khởi đầu là 0.5 g/kg/ngày và tăng dần liều
0.5 gm/kg/ ngày tối đa là 4g/kg/ngày. Theo dõi sự dung nạp và tác dụng phụ của
lipid. Các tác dụng phụ của lipid gồm nhồi máu phổi, tắc mạch và giảm chức
năng bạch cầu. Các hiểu biết gần đây về triglycerid chuỗi dài hỗ trợ về miến
dịch, thêm vào đó triglycerid chuỗi trung bình và acid béo omega 3 cũng được
sử dụng ngày càng nhiều hơn[32]
Điện giải và muối khoáng: Trẻ em bị bệnh nặng không chi được cung

cho bệnh nhân có thể qua đường miệng, đặt sonde trực tiếp vào dạ dày hoặc sau
môn vị. Có thể cho ăn ngắt quãng, bolus hoặc nhỏ giọt tùy thuộc vào sự dung
nạp của từng bệnh nhân. Có thể sử dụng thêm một số thuốc như:
metchlorpromide, cisapride và erythromycin trong trường hợp giảm nhu động
ruột và trường hợp đặt ống sonde ăn vào sau môn vị [39]. Nếu sử dụng thuốc
cisapride nên theo dõi điện tâm đồ xem thời gian QT có bị phân đoạn bất thường
không và sự tương tác thuốc đặc biệt với azoles, macrolides và ức chế protease
cần được lưu ý. Thức ăn gồm các yếu tố có trọng lượng phân tử thấp, các chất
trùng hợp hoặc các sản phẩm được chế biến từ các phân tử. Các tác dụng phụ


19

của các sản phẩm nay thường ít gồm có: ứ dịch, tiêu chảy, đau bụng và các biến
chứng liên quan khi đặt sonde[40].
Ở bệnh nhân sơ sinh bị bệnh nặng nuôi dưỡng tĩnh mạch, việc cho ăn
thêm 4 – 20 kcal/kg/ngày được chứng minh là có hiệu quả. Khi sử dụng liệu
pháp dinh dưỡng này làm trẻ tăng cân tốt hơn, bilirubin giảm nhanh hơn, ít ứ
mật, trưởng thành ruột nhanh hơn tăng dung nạp thức ăn và cải thiện nhanh hơn.
1.3.6. 2. Nuôi dưỡng tĩnh mạch
Nếu đường tiêu hóa không thể sử dụng được thì nuôi dưỡng tĩnh mạch trở
nên cần thiết. Có thể nuôi dưỡng qua đường ngoại vi trừ khi việc nuôi dưỡng này
kéo dài lúc đó cần thiết lập đường truyền trung tâm. Khi ven trung tâm đã được
thiết lập có thể truyền các dung dịch có nồng độ cao.
Nuôi dưỡng tĩnh mạch nên bắt đầu với dung dịch glucose với liều
5mg/kg/phút sau đó tăng dần đến 25g/kg/ngày. Aminoacid được thêm vào từ
ngày thứ 2 với liều khởi đầu là 0.5g/kg/ngày tăng dần dần mỗi 0.5g/kg/ngày liều
tối đa là 3g/kg/ngày. Lipid được thêm vào ngày thứ 3 với liều 0.5 – 1 g/kg/ngày
tăng dần mỗi 0.5g/kg/ngày, liều tối đa là 4g/kg/ngày. Dịch nên tính theo nhu cầu
hàng ngày và theo sự dung nạp. Theo dõi nồng độ glucose, aminoacid , glycerid

cứu tập trung tìm tỷ lệ suy dinh dưỡng và mối liên quan giữa SDD và tử vong,
số ngày nằm viện.
Năm 1993 Leite và cộng sự đã nghiên cứu trên 46 trẻ em nhập PICU
thấy rằng 65% trẻ bị suy dinh dưỡng. Tỷ lệ tử vong ở nhóm SDD cao hơn so
với nhóm không SDD(20% so với 12.5%). Theo dõi tiếp nhóm bệnh nhân
sống ra viện thấy 36% có chiều cao giảm so với tuổi[4]
Năm 2004 Hulst và cộng sự đã chỉ ra rằng phải sau 6 tháng xuất viện trẻ
bị bệnh nặng mới có thể hồi phục về tình trạng dinh dưỡng[6],[42]
Năm 2006 Hulst và cộng sự đã tiến hành thử nghiệm đa trung tâm trên
105 bệnh nhân tại PICU tuổi từ 7 ngày đến 16 tuổi. Ông tiến hành đo nồng độ
albumin, ure, triglycerid, magie trong máu cho các bệnh nhân này . Kết quả


21

cho thấy 20%, 25%, 30% và 52% số bệnh nhân có giảm magie máu, tăng
triglycerid, tăng ure máu và giảm albumin máu tương ứng [43]
Theo kết quả báo cáo tại hội nghị quốc gia về dinh dưỡng lâm sàng thì
TTDD bệnh nhi nội trú bị bệnh cấp tính ở Bệnh viện Nhi Đồng 1 năm 2007:
SDD thể nhẹ cân (Cân nặng/tuổi): là17,5%. SDD thấp còi (chiều cao/tuổi) là
11,6%. SDD cấp tính (cân nặng/chiều cao) là 9,3%[10]
Các nghiên cứu về nhu cầu năng lượng cho bệnh nhân nặng tập trung tìm
ra một phương trình ước tính năng lượng tối ưu cho trẻ bị bệnh nặng và hậu
quả của việc nuôi dưỡng thừa hoặc thiếu năng lượng.
Năm 2002 Deklek và cộng sự đã nghiên cứu trên 18 trẻ thở máy trên 24
giờ tại PICU.Các trẻ này được đo năng lượng tiêu hao lúc nghỉ, đo thương số
hô hấp (RQ) và đo cân bằng năng lượng bằng cách lấy năng lượng lúc hoạt
động trừ đi tổng năng lượng tiêu hao. Kết quả cho tháy năng lượng khi nghỉ
ngơi là 40 – 64kcal/kg/ngày[44]. Tuy nhiên các kết quả này không chỉ ra
được sự cần thiết của năng lượng tiêu hao lúc nghỉ. RQ bị ảnh hưởng bởi cân

Grohskopf LA đã nghiên cứu trên 512 bệnh nhân trong 35 PICU và thấy
rằng tỷ lệ nhiễm trùng bệnh viện(11,9%) có liên quan đến tổng số năng lượng
cung cấp cho bệnh nhân(RR, 5.5, 95% CI, 3,6-8,5) [49].
Khi nghiên cứu về thành phần các chất dinh dưỡng nuôi dưỡng cho trẻ
em bị bệnh nặng các nhà nghiên cứu cố gắng đưa ra số lượng cụ thể của các
chất dinh dưỡng
Premji SS đã thực hiện nghiên cứu hồi cứu trên trẻ sơ sinh cho thấy
lượng protein cung cấp cho bệnh nhân từ 3-4g/kg/ngày giúp trẻ tăng cân
tốt[50]
Faustino EV tiến hành nghiên cứu về mối liên quan giữa tăng đường
máu ở trẻ em bị bệnh nặng không bị tiểu đường với tỷ lệ tử vong và thời gian
nằm viện thấy rằng chúng có liên quan với nhau . Nguy cơ tương đối (RR)
cho chết tăng glucose tối đa trong vòng 24 giờ> 150 mg / dL (RR, 2.50,
khoảng tin cậy 95% (CI), 1,26-4,93) và đường cao nhất trong vòng 10 ngày>
120 mg / dL (RR , 5,68, 95% CI, 1,38-23,47). Thời gian nằm viện giảm khi
lượng glucose cung cấp 120 – 150 mg/dl [51]



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status