HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HÀ THỊ THUỲ DƯƠNG
ẢNH HƯỞNG TIÊU CỰC CỦA TÂM LÝ TIỂU NÔNG
ĐẾN THỰC HIỆN DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ VIỆT NAM
HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
CHUYÊN NGÀNH CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG
VÀ CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ
HÀ NỘI - 2019
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HÀ THỊ THUỲ DƯƠNG
ẢNH HƯỞNG TIÊU CỰC CỦA TÂM LÝ TIỂU NÔNG
ĐẾN THỰC HIỆN DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ VIỆT NAM
HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
CHUYÊN NGÀNH CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG
VÀ CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ
Mã số: 62.22.03.02
Người hướng dẫn khoa học: 1. GS, TS. Lê Hữu Nghĩa
2. TS. Trần Sỹ Dương
2.2. Một số vấn đề lý luận về thực hiện dân chủ ở cơ sở Việt Nam hiện nay .........50
2.3. Phương thức tác động và sự cần thiết phải hạn chế những ảnh hưởng tiêu
cực của tâm lý tiểu nông đến thực hiện dân chủ ở cơ sở..................................64
CHƯƠNG 3: ẢNH HƯỞNG TIÊU CỰC CỦA TÂM LÝ TIỂU NÔNG ĐẾN
THỰC HIỆN DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ VIỆT NAM HIỆN NAY THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN ...................................................79
3.1. Thực trạng ảnh hưởng tiêu cực của tâm lý tiểu nông đến thực hiện dân
chủ ở cơ sở Việt Nam hiện nay ........................................................................79
3.2. Nguyên nhân của thực trạng ảnh hưởng tiêu cực của tâm lý tiểu nông
đến thực hiện dân chủ ở cơ sở ........................................................................103
CHƯƠNG 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HẠN CHẾ ẢNH HƯỞNG TIÊU CỰC
CỦA TÂM LÝ TIỂU NÔNG ĐỐI VỚI VIỆC THỰC HIỆN DÂN
CHỦ Ở CƠ SỞ VIỆT NAM HIỆN NAY ..............................................114
4.1. Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, phát
triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa - cơ sở vật chất để
hạn chế, xoá bỏ những biểu hiện tiêu cực của tâm lý tiểu nông ....................114
4.2. Nâng cao hiệu quả công tác giáo dục, tuyên truyền, nâng cao trình độ,
nhận thức, văn hóa của nhân dân....................................................................122
4.3. Hoàn thiện hệ thống pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở, trong đó có
pháp lệnh về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn ..................................133
4.4. Hoàn thiện công tác cán bộ nhằm đảm bảo đội ngũ cán bộ, công chức ở
cơ sở có đủ trình độ, năng lực, phẩm chất ......................................................139
KẾT LUẬN ............................................................................................................150
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN
QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI ĐÃ CÔNG BỐ ..................................................................152
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................153
riêng, điều quan trọng là phải nhận diện rõ những rào cản đối với việc thực hiện dân
2
chủ, trong đó một trở lực rất đáng quan tâm chính là tâm lý tiểu nông. Như tác giả
Hoàng Chí Bảo từng khẳng định:
...muốn thực hiện được vai trò và tác dụng tích cực của dân chủ đối với
sự phát triển của cá nhân và xã hội thì phải thường xuyên phát hiện và
tháo gỡ những rào cản dân chủ, xoá bỏ những phản dân chủ trong xã hội
cả những biểu hiện hữu hình có thể cảm nhận được trong thể chế, trong
bộ máy và con người lẫn những biểu hiện vô hình trong tâm ý, ý thức, lối
sống phong tục, tập quán lạc hậu có trong đời sống hàng ngày của cá
nhân và cộng đồng [9, tr.13].
Xuất phát từ tầm quan trọng đặc biệt của thực hiện dân chủ ở cơ sở với xây
dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta, Bộ Chính trị ban hành
chỉ thị 30 năm 1998 về xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở và đặc biệt
là sự ra đời của pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm 2007, việc
thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn đã có những chuyển biến tích cực. Người
dân đã có cơ sở pháp lý để thực hiện quyền làm chủ của mình. Tuy nhiên, mức độ
ảnh hưởng của tâm lý tiểu nông đối với việc thực hiện dân chủ ở cấp cơ sở nặng nề
hơn so với các cấp cao hơn. Một phần, do trong thực hiện dân chủ ở cơ sở, hình
thức dân chủ trực tiếp được phát huy tối đa với sự tham gia của đông đảo người
dân, vì vậy đối tượng tham gia thực hiện dân chủ ở diện rộng. Một phần khác, do
cán bộ ở cơ sở đều là những người quen biết, họ hàng, không hề xa lạ với người dân
nên họ không chỉ bị tác động bởi những quy định của luật pháp mà còn bị chi phối
bởi các mối quan hệ phi quan phương khác. Người dân và cán bộ ở cơ sở, đa số là ở
các xã (Việt Nam có hơn 11.000 xã, phường, thị trấn thì đến hơn 8000 xã), hoạt
động của nhiều người dân vẫn là sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ, manh mún, do đó
những tàn dư của tâm lý tiểu nông ở bộ phận này nặng nề hơn so với các tầng lớp
khác. Vì vậy, hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của tâm lý tiểu nông đến thực hiện
hiện dân chủ ở cơ sở Việt Nam trong thời gian tới.
2.2. Nhiệm vụ
- Tổng quan những công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài của luận án;
Làm rõ những vấn đề lý luận về tâm lý tiểu nông và thực hiện dân chủ ở cơ sở Việt
Nam hiện nay; phân tích sự cần thiết phải hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của
tâm lý tiểu nông đến thực hiện dân chủ ở cơ sở, phương thức tác động của tâm lý
tiểu nông đến thực hiện dân chủ ở cơ sở.
- Phân tích thực trạng ảnh hưởng tiêu cực của tâm lý tiểu nông đến việc thực
hiện dân chủ ở cơ sở Việt Nam hiện nay, nguyên nhân của thực trạng đó.
4
- Đề xuất một số giải pháp hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của tâm lý tiểu
nông đến việc thực hiện dân chủ ở cơ sở Việt Nam hiện nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng của luận án là ảnh hưởng tiêu cực của tâm lý tiểu nông đến việc
thực hiện dân chủ ở cơ sở Việt Nam hiện nay.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Về phạm vi nội dung nghiên cứu của luận án là việc thực hiện dân chủ của
nhân dân và cán bộ ở các xã. Nội dung của việc thực hiện dân chủ ở các xã cũng
được khảo sát trên cơ sở nội dung của pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường,
thị trấn.
Phạm vi không gian: các xã trong phạm vi không gian lãnh thổ Việt Nam.
Phạm vi thời gian: từ năm 2007 (khi có Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã,
phường, thị trấn) đến nay.
4. Những đóng góp mới của luận án
- Những vấn đề về tâm lý tiểu nông, về thực hiện dân chủ ở cơ sở đã đươc
nhiều công trình bàn tới nhưng những phương thức tác động của tâm lý tiểu nông
đến thực hiện dân chủ ở cơ sở, đó là thông qua phong tục tập quán và giáo dục gia
định chủ trương, chính sách, pháp luật về phát huy dân chủ cơ sở, hạn chế ảnh
hưởng của tâm lý tiểu nông trong thực hiện dân chủ ở cơ sở.
- Những kết quả nghiên cứu của luận án có thể được sử dụng làm tài liệu
tham khảo cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã cũng như nhân dân trong quá trình
thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn, làm tài liệu nghiên cứu và giảng dạy trong
các trường chính trị, trường đại học, cao đẳng.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục các công trình khoa học liên quan
đến đề tài luận án của nghiên cứu sinh, Danh mục tài liệu tham khảo, luận án chia
làm 4 chương 13 tiết.
6
Chương 1
TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ, VỀ
TÂM LÝ TIỂU NÔNG TRÊN PHƯƠNG DIỆN LÝ LUẬN
1.1.1. Những công trình nghiên cứu về dân chủ ở cơ sở trên phương diện
lý luận
Về những công trình nghiên cứu ở nước ngoài: vấn đề dân chủ ở cơ sở cũng
là một nội dung quan trọng trong thực hiện dân chủ, được nhiều nước quan tâm.
Đặc biệt, quá trình thực hiện dân chủ cơ sở ở Trung Quốc có nhiều điểm tương
đồng với Việt Nam và cũng được giới khoa học của Trung Quốc nghiên cứu khá
sâu sắc ở nhiều góc độ khác nhau.
Ở Trung Quốc, nội dung của dân chủ cơ sở đã được luật hoá bằng các luật và
có những nội dung gần giống như ở Việt Nam mặc dù tên gọi có khác. Vương Đổng
trong Xây dựng dân chủ cơ sở trong 30 năm cải cách mở cửa [59] cho rằng, từ cải
cách mở cửa đến nay, Trung Quốc từng bước thiết lập nên hệ thống tự trị dân chủ ở
cơ sở với nội dung chủ yếu là Ủy bản thôn dân ở nông thôn, Ủy ban cư dân ở đô thị
tự trị thôn dân là một mắt khâu trong tiến trình cải cách thể chế chính trị Trung
Quốc. Thái Đài Hồng trong bài viết Một số suy nghĩ về thúc đẩy xây dựng dân chủ
cơ sở ở nông thôn [79] cho rằng, xây dựng dân chủ ở cơ sở là một bộ phận quan
trọng của xây dựng dân chủ ở Trung Quốc. Thực trạng xây dựng và phát triển dân
chủ ở cơ sở trực tiếp ảnh hưởng đến trình độ phát triển và mức độ thực hiện của dân
chủ xã hội chủ nghĩa. Xây dựng dân chủ cơ sở ở nông thôn là một bộ phận quan
trọng của xây dựng dân chủ ở cơ sở.
Như vậy, dân chủ cơ sở ở Trung Quốc có những nội dung tương đồng với
quá trình thực hiện dân chủ ở cơ sở ở Việt Nam, đồng thời cũng có nhiều sự khác
biệt. Ở Trung Quốc, dân chủ ở cơ sở lấy cấp thôn làm điểm xuất phát, trong khi ở
Việt Nam là cấp xã. Một sự khác biệt nữa trong dân chủ cơ sở ở Việt Nam và
Trung Quốc là ở Trung Quốc, nhân dân trực tiếp bầu và bãi nhiệm uỷ ban thôn
dân (từ 5 đến 7 người), trong khi ở Việt Nam nhân dân trực tiếp bầu và bãi nhiệm
trưởng thôn.
Về tình hình nghiên cứu ở trong nước: nghiên cứu về dân chủ ở cơ sở, đặc
biệt là dân chủ ở xã, phường, thị trấn thu hút sự tham gia của rất nhiều nhà khoa học
và những người lành đạo thực tiễn ở nước ta từ năm 1998 đến nay. Các công trình
8
này đã góp phần làm rõ những vấn đề lý luận liên quan đến thực hiện dân chủ ở cơ
sở theo nhiều góc độ khác nhau:
Những công trình đi sâu nghiên cứu nội dung của thực hiện dân chủ ở cơ sở
Tác giả Đỗ Quang Tuấn trong bài “Cơ sở lý luận - thực tiễn của phương
châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và mấy vấn đề về xây dựng quy chế
dân chủ ở cơ sở” [202], đã đề cập những nội dung dân biết, dân bàn, dân làm, dân
kiểm tra trong quy chế dân chủ ở cơ sở. Tác giả Đỗ Mười với bài “Phát huy quyền
làm chủ của nhân dân ở cơ sở” [121] cũng chỉ rõ “Quy chế dân chủ ở xã có nội
dung chủ yếu là xác định quyền làm chủ của nhân dân tham gia quản lý nhà nước,
quản lý xã hội ở cơ sở, xác định mối quan hệ giữa nhân dân và chính quyền cơ sở”.
tiếp trên địa bàn làng xã” [196] cho rằng, cần thực hiện quyền dân chủ trực tiếp ở
địa bàn làng xã nơi mà mọi người sống khá ổn định, gắn bó về mặt văn hóa, phong
tục, tình cảm, gia đình, dòng họ. Tác giả Đỗ Mười với bài “Phát huy quyền làm chủ
của nhân dân ở cơ sở” [121] chỉ ra thêm 2 lí do phải thực hiện dân chủ ở cơ sở đó
là xã là địa bàn nhân dân sinh sống, lao động, sản xuất công tác, là địa bàn diễn ra
sự tiếp xúc và các mối liên hệ nhiều mặt giữa các tầng lớp nhân dân với đảng bộ và
chính quyền, cán bộ, công chức. Đồng thời đông đảo nhân dân ở cơ sở có những
yêu cầu bức xúc về dân chủ, có những nguyện vọng và lợi ích thiết thân trong đời
sống hàng ngày. Trong bài “Thực hiện dân chủ ở xã, mấy vấn đề đặt ra” [138], tác
giả Trần Quang Nhiếp cũng giải thích rõ lí do tại sao phải quan tâm thực hiện dân
chủ ở xã là do:
Xã là nơi có vị trí quan trọng, là nơi trực tiếp giải quyết mối quan hệ giữa
nhà nước và nhân dân, là địa bàn tổ chức, thực hiện các chủ trương,
đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước đối với lực
lượng đông đảo của xã hội. Xã là cộng đồng dân cư mà mọi người gắn
bó với nhau bởi những kết cấu chặt chẽ, làng xóm, họ tộc lâu bền trải qua
nhiều biến cố lịch sử [138, tr.45]
Nói về vai trò của xã đối với việc thực thi, hoàn thiện chính sách của Nhà nước, tác
giả cũng khẳng định:
Nhân dân ở xã cũng như phường, thị trấn là nơi trực tiếp thực hiện các
chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, vừa
là người kiểm nghiệm, đánh giá, thẩm định tính chuẩn xác, hiệu lực, hiệu
quả của những chủ trương, đường lối, chính sách. Vì thế đây là nơi đưa
10
nghị quyết, chính sách vào cuộc sống và ngược lại, thông qua đây thể
hiện năng lực và trình độ làm chủ của nhân dân trong mỗi thời kỳ, trên
từng lĩnh vực của đời sống xã hội [138, tr. 45].
Tác giả Nguyễn Huy Quý trong bài “Về dân chủ ở cơ sở” [153] chỉ rõ sự cần
nâng cao nhận thức về quyền và nghĩa vụ của công dân; Thực hiện dân chủ ở cơ sở
đã phát huy tiềm năng trí tuệ sức sáng tạo, sức mạnh vật chất và tinh thần của nhân
dân để phát triển kinh tế - xã hội; Thực hiện dân chủ ở cơ sở nhằm giữ vững kỷ
cương, phép nước ngăn chặn tiêu cực, các tệ nạn xã hội, nâng cao năng lực quản lý
của chính quyền; Thực hiện dân chủ ở cơ sở nhằm xây dựng niềm tin và mối quan
hệ chặt chẽ giữa dân với Đảng và chính quyền. Trong bài “Khâu đột phá của quá
trình phát huy dân chủ ở nước ta thời kỳ đổi mới” [146], tác giả Tòng Thị Phóng
cũng nêu ý nghĩa của việc thực hiện dân chủ ở cơ sở là nhận thức về dân chủ của
các tổ chức trong hệ thống chính trị và toàn xã hội về dân chủ, nhất là dân chủ trực
tiếp của nhân dân có nhiều chuyển biến tích cực; Thực hiện dân chủ ở cơ sở góp
phần quan trọng phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh trật tự, an toàn xã hội;
Thực hiện dân chủ ở cơ sở góp phần vào xây dựng Đảng và chính quyền. Dù có
nhiều cách tiếp cận khác nhau, song các công trình trên đã phân tích ý nghĩa của
thực hiện dân chủ ở cơ sở đối với việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính trị,
nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, ý nghĩa đối với sự phát triển kinh tế, văn
hoá, xã hội ở địa phương. Đây cũng là những nội dung hữu ích cần tham khảo cho
tác giả luận án. Tuy nhiên, trong luận án này, tác giả tập trung làm rõ hơn vai trò
của dân chủ ở cơ sở với quá trình dân chủ hoá, xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Những công trình nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện
dân chủ ở cơ sở:
Tác giả Đỗ Mười trong bài “Phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở”
[121] đã phân tích vai trò của đội ngũ cán bộ cơ sở đối với việc thực hiện quy chế
dân chủ ở cơ sở “Điều quan trọng là phải có được số cán bộ chủ chốt ở cơ sở trong
sạch, liêm khiết, công tâm; nếu số này tiêu cực nặng, tham nhũng mất dân chủ, nhân
dân không tin cậy thì phải kiện toàn cán bộ đã rồi mới triển khai chỉ thị 30. Những
cơ sở trung bình, thậm chí có những mặt yếu kém nếu cán bộ chủ chốt tốt thì vẫn có
thể triển khai chỉ thị 30”. Tác giả Trần Quang Nhiếp trong bài “Thực hiện dân chủ
ở xã, mấy vấn đề đặt ra” [138] chỉ ra 2 yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện dân
giác, hạn chế sự phát triển của tư duy lô gic và khoa học; Tâm lý hẹp hòi, vị kỷ,
phường hội, cục bộ địa phương. Như vậy, tác giả công trình này cho rằng tâm lý sản
13
xuất nhỏ là một biểu hiện trong tâm lý truyền thống tiêu cực của người nông dân.
Trong tâm lý sản xuất nhỏ tác giả chỉ ra 2 nét tâm lý là thiển cận, không nhìn xa “gà
nhà ăn quanh quẩn cối xay”, lối sống cá nhân vị kỷ đèn nhà ai nhà ấy rạng.
Lê Hữu Xanh trong cuốn sách Tác động của tâm lý làng xã trong việc xây
dựng đời sống kinh tế - xã hội ở nông thôn đồng bằng Bắc Bộ nước ta hiện nay
[223] đã chỉ ra biểu hiện của tâm lý làng xã là tâm lý tiểu nông, tâm lý cộng đồng và
tâm lý trọng tình cảm. Trong tác phẩm này, tác giả xếp tâm lý tiểu nông vào là một
trong những biểu hiện của tâm lý làng xã. Đồng thời tác giả nêu 1 số biểu hiện của
tâm lý tiểu nông đó là tư duy kinh nghiệm chiếm ưu thế trong đời sống nhận thức;
tâm lý an phận, thụ động, trông chờ, ít sáng tạo (sản xuất nhỏ, trình độ lạc hậu, khả
năng chế ngự và chinh phục tự nhiên thấp), tâm lý tư hữu (một nắng hai sương lo
vun vén cho mảnh ruộng, ngôi nhà của mình).
Công trình “Tâm lý người Việt Nam đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa
những điều cần khắc phục” [63] do Phạm Minh Hạc chủ biên là tập hợp các bài viết
của nhiều tác giả, trong đó các tác giả bàn nhiều về tâm lý tiểu nông. Ví dụ như
trong công trình này có bài viết “Một số điều cần khắc phục trong nhân cách người
Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của tác giả Thái Duy Tuyên đã chỉ
ra những biểu hiện tâm lý tiêu cực đó là tư tưởng dòng họ, bè phái cục bộ, tâm lý dĩ
hòa vi quý, tâm lý bảo thủ, trì trệ. Tác giả Đỗ Long trong công trình này cũng chỉ ra
những biểu hiện của tâm lý tiểu nông là tư duy manh mún, tình cảm dòng họ và tính
cục bộ, tính thụ động, cầu may, ăn xổi, tác phong tùy tiện, ý thức kỷ luật kém, tư
tưởng bình quân chủ nghĩa.
Tác giả Trần Sỹ Dương trong công trình “Ảnh hưởng của tâm lý sản xuất
nhỏ ở đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở đồng bằng Bắc Bộ hiện nay” [39] đã chỉ ra
những đặc trưng tiêu cực của tâm lý sản xuất nhỏ là cục bộ địa phương và tâm lý
phận, trọng kinh nghiệm, tư tưởng cục bộ địa phương. Như vậy, tâm lý làng xã cũng
có nhiều nét tâm lý tương đồng với tâm lý tiểu nông.
Đàm Thị Hồng trong bài viết Ảnh hưởng của tâm lý tiểu nông đối với quá
trình xây dựng nông thôn mới ở nước ta hiện nay [77] đưa ra định nghĩa “Tâm lý
tiểu nông là loại hình tâm lý phổ biến ở nông thôn nước ta, được hình thành trên cơ
sở nền sản xuất nông nghiệp lạc hậu, quy mô nhỏ, khép kín, mang nặng tính tự cấp,
tự túc”. Tác giả cũng nêu những biểu hiện tiêu cực của tâm lý tiểu nông là Tư duy
manh mún, phân tán, nhỏ lẻ; Tư tưởng bè phái, dòng họ, cục bộ địa phương; Tâm lý
tư hữu cá nhân; Thiếu ý thức kỷ luật lao động, coi thường pháp luật; Tính thụ động,
yên phận, ỷ lại; Người nông dân tuy một nắng hai sương nhưng lại làm việc tuỳ
15
hứng, tự phát, thiếu tổ chức, kỷ luật chặt chẽ, tác phong lề mề, tuỳ tiện đã trở thành
thói quen phổ biến; Thói quen dựa dẫm, ỷ lại vào tập thể “Nước trôi thì bèo trôi,
nước nổi thì thuyền nổi”.
Tóm lại, về những biểu hiện tiêu cực của tâm lý tiểu nông ở những công
trình cụ thể vẫn có sự khác biệt, có công trình nói biểu hiện này, công trình nói biểu
hiện khác và cách sắp xếp tâm lý tiểu nông với tâm lý làng xã, tâm lý nông dân, tâm
lý truyền thống…có sự giao thoa, bao hàm song nếu khái quát chung tất cả các tài
liệu này thì những biểu hiện tiêu cực của tâm lý tiểu nông đã được nhắc tới về cơ
bản đầy đủ. Đây là tài liệu tham khảo rất hữu ích cho tác giả luận án khi nghiên cứu
về những biểu hiện tiêu cực của tâm lý tiểu nông.
Những công trình phân tích cơ sở hình thành tâm lý tiểu nông ở nước ta.
Trong công trình “Tâm lý người Việt Nam đi vào công nghiệp hóa, hiện đại
hóa những điều cần khắc phục” [63] do Phạm Minh Hạc chủ biên, trong khi làm rõ
những biểu hiện của tâm lý tiểu nông, tác giả cũng phân tích điều kiện sản xuất sinh
hoạt của người nông dân sản xuất nhỏ trong không gian làng xã đã hình thành nên
tâm lý tiểu nông như thế nào. Tác giả Đỗ Long trong công trình “Quan hệ cộng
đồng và cá nhân trong tâm lý nông dân” [103] phân tích làm rõ tâm lý cộng đồng
Quách Ngọc Lan trong công trình Phân tích nhân tố tâm lý và văn hóa cản
trở việc tham gia xây dựng dân chủ cơ sở của nông dân [97] tập trung phân tích
nhân tố tâm lý và văn hóa của nông dân cản trở việc việc nâng cao chất lượng tham
gia của nông dân vào quá trình chính trị ở cơ sở.
Trương Hải Yến trong bài viết Xây dựng dân chủ cơ sở ở nông thôn dưới sự
ảnh hưởng của văn hóa chính trị truyền thống [224] cho rằng, cùng với việc nghiên
cứu xây dựng dân chủ cơ sở ở nông thôn ngày càng phát triển theo chiều sâu, ngày
càng nhiều học giả nhận thức được nhân tố văn hóa đã trở thành một nhân tố ở tầng
sâu chế ước việc xây dựng dân chủ cơ sở ở nông thôn. Điều này chủ yếu được thể
hiện ở thái độ và nhận thức đối với dân chủ, tính nhiệt tình và động cơ tham gia
chính trị, hoạt động bầu cử... Vì thế, để thúc đẩy tiến trình dân chủ hóa ở nông thôn,
cần phải từng bước khắc phục những cản trở của văn hóa chính trị truyền thống đối
với phát huy dân chủ, tập trung phát triển sức sản xuất xã hội ở nông thôn, tăng
cường xã hội hóa chính trị ở nông thôn, nỗ lực bồi dưỡng văn hóa chính trị phù hợp
với dân chủ hiện đại.
17
Trong bài viết Hạn chế sự ảnh hưởng của văn hóa chính trị truyền thống,
thúc đẩy xây dựng dân chủ ở cơ sở [66], Lý Hồng Hải cho rằng, văn hóa chính trị
thường ảnh hưởng đến tiến trình dân chủ và sự phát triển chính trị của một quốc gia.
Văn hóa chính trị truyền thống Trung Quốc có nhiều ảnh hưởng tiêu cực đối với đời
sống chính trị xã hội hiện đại, đặc biệt là sự ảnh hưởng của văn hóa chính trị truyền
thống đối với xây dựng dân chủ chính trị ở cơ sở càng rõ nét. Để thúc đẩy xây dựng
chính trị dân chủ ở cơ sở, cần phải hạn chế sự ảnh hưởng của văn hóa chính trị
truyền thống phong kiến đối với việc xây dựng dân chủ, chú trọng bồi dưỡng công
dân theo mô hình “người công dân tham gia”, tăng cường sự minh bạch chính trị,
xây dựng văn hóa chính trị hiện đại...
Vương Đổng với công trình Xây dựng dân chủ cơ sở trong 30 năm cải cách
mở cửa [59], sau khi trình bày nhiều thành tựu trong thực hiện dân chủ cơ sở ở
hóa. Biểu hiện rõ nhất là tính duy tình, tự ti, mặc cảm về địa vị xã hội của một bộ
phận dân cư nên họ không dám đấu tranh, bộc lộ chính kiến, muốn dĩ hòa vi quý.
Trong đấu tranh phê bình thì thiếu công tâm, khách quan, cục bộ dòng họ, cục bộ
địa phương”. Bên cạnh tâm lý duy tình, tác giả còn chỉ ra biểu hiện của tư duy manh
mún dẫn tới “Trong bàn bạc, thảo luận, trao đổi quyết định những vấn đề lớn, tư
duy tiểu nông, tư duy cò con, manh mún, tủy tiện biểu hiện rất rõ, không vượt ra
ngoài những nhu cầu hạn hẹp, cá nhân của người nông dân”. Cùng với đó là tác
động của tâm lý dòng họ, cục bộ “Do tác động của tâm lý dòng họ, cục bộ địa
phương nên ở nhiều nơi xảy ra tình trạng cát cứ, bè phái, phân tán, gây chia rẽ, mất
đoàn kết, không tạo ra tính thống nhất, sức mạnh trí tuệ và nội lực của tập thể, cộng
đồng. Nhiều vấn đề đưa ra dân bàn bạc thì bị chi phối bởi quan hệ dòng họ, do vậy
thiếu khách quan, chính xác”. Một biểu hiện nữa là tâm lý bình quân chủ nghĩa
“Yếu tố bình quân, cào bằng ảnh hưởng đến việc triển khai, khi thực hiện dân biết,
dân làm, kiểm tra có biểu hiện đố kỵ, không thích ai hơn mình, cái gì cũng phải đều
nhau, kìm hãm nhân tố tích cực, nảy sinh sự thiếu tin cậy, nghi hoặc lẫn nhau”. Tác
giả tiếp tục chỉ ra tác động tiêu cực của tâm lý cộng đồng đến thực hiện dân chủ
“Tâm lý cộng đồng có mặt tích cực nhưng cũng có mặt tiêu cực, đang trở thành 1
dạng áp lực nhóm, mang tính áp đặt đối với thái độ và chính kiến của cá nhân. Do
tác động của tâm lý cộng đồng, tính trách nhiệm, trí tuệ, sáng kiến cá nhân không
được phát huy đầy đủ. Người nông dân có tâm lý ngại bộc lộ chính kiến của mình.
Tâm lý cộng đồng có ảnh hưởng lớn đến việc giải phóng năng lực, trí tuệ, sự tự do,
19
dân chủ của mỗi cá nhân”. Từ những biểu hiện tiêu cực của tâm lý tiểu nông đã
phân tích trên, tác giả đã đi đến kết luận: “Những ảnh hưởng tiêu cực này biểu hiện
cả trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân… Nông dân Việt Nam vốn có bản
chất tư hữu, lối tư duy trực quan, cụ thể, tùy tiện, manh mún. Do vậy, trong nhận
thức và hành vi, họ có tầm nhìn hạn hẹp, khi đụng chạm đến lợi ích, ít có khả năng
vượt khỏi cái cá nhân để vươn tới cái cộng đồng, cái tổng thể, chiến lược. Đây là
trong 9 chương của cuốn sách nên những nội dung này mới chỉ được nhắc đến chứ
chưa được phân tích sâu sắc.
Nguyễn Văn Hiển (chủ biên) trong cuốn sách Về thi hành pháp lệnh thực
hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm 2007 [69] đã tập trung phân tích những
thành tựu và hạn chế trong thực hiện pháp lệnh dân chủ ở xã, phường, thị trấn với
các nội dung như xây dựng công trình công cộng tại địa phương và hoạt động của
Ban giám sát đầu tư của cộng đồng, hoạt động bầu trưởng thôn, trưởng tổ dân phố,
hoạt động xây dựng và thực thi hương ước, quy ước văn hoá, hoạt động của ban
thanh tra nhân dân, hoạt động lấy phiếu tín nhiệm của cán bộ chủ chốt cấp xã,
phường, thị trấn. Mặc dù không nói đến tâm lý tiểu nông nhưng qua phần thực trạng
hạn chế, chúng ta có thể thấy nhiều ảnh hưởng tiêu cực của tâm lý tiểu nông đến
thực hiện dân chủ ở cơ sở. Cuốn sách là tài liệu khảo sát công phu với nhiều số liệu
cụ thể, định lượng là tài liệu tham khảo hữu ích cho tác giả trong quá trình đánh giá
thực trạng về những ảnh hưởng tiêu cực của tâm lý tiểu nông đến thực hiện dân chủ
ở cơ sở.
Về các bài viết nghiên cứu khoa học đăng trên tạp chí, nhiều tác giả đánh giá
thực trạng thực hiện dân chủ ở cấp xã, chỉ ra những bất cập của nó mà những bất
cập đó có liên quan tới ảnh hưởng tiêu cực của tâm lý tiểu nông, mặc dù có tác giả
không nói rõ điều này. Tác giả Phạm Quang Nghị trong bài “Thực hiện quy chế dân
chủ cơ sở ở Hà Nam” [123] đánh giá trong thực hiện quy chế dân chủ, vẫn có
trường hợp cán bộ thoái hóa, biến chất tham nhũng cố tình làm sai quy chế dân chủ
cơ sở, không thực hiện đúng các quy định. Người dân không hiểu quy chế dân chủ
cơ sở, vụ lợi, bị các phần tử xấu kích động, có những hành động sai trái… Thực
chất những hạn chế này là nói đến sự không tuân theo pháp luật, kỷ cương của cán
bộ và nhân dân trong thực hiện dân chủ ở cấp xã. Tác giả Lê Kim Việt với bài “Qua
3 năm thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở nông thôn” [221] đã bước đầu thấy trong
thực hiện dân chủ cơ sở “Không ít người nhận thức được yêu cầu, nội dung, mục