MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thanh niên là lực lượng đông đảo, chiếm trên 1/3 dân số và trên 1/2 lực
lượng lao động xã hội, có vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Chủ tịch Hồ Chí Minh, khi đánh giá về
vai trò của thanh niên, đã nhấn mạnh: “Thanh niên là người chủ tương lai của
nước nhà. Thật vậy, nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do
các thanh niên” [55, tr.185]. Chính vì lý do đó, việc bồi dưỡng, chăm lo giáo
dục cho tầng lớp này có tầm quan trọng đặc biệt. Trong Di chúc, Hồ Chí Minh
đã từng căn dặn: “Đảng phải có kế hoạch đào tạo bồi dưỡng họ thành những
người kế tục sự nghiệp cách mạng vừa hồng vừa chuyên. Bồi dưỡng thế hệ
cách mạng cho đời sau là một việc làm rất quan trọng và rất cần thiết” [57,
tr.510].
Kế thừa và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh, trong Nghị quyết
Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ VII, khóa X về tăng cường
sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên trong thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng ta khẳng định: “Thanh niên là rường
cột của nước nhà, chủ nhân tương lai của đất nước, là lực lượng xung kích
trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, một trong những nhân tố quyết định sự
thành bại của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc
tế và xây dựng chủ nghĩa xã hội" [15, tr.7].
Trong những năm qua, nhận thức được tầm quan trọng đó, Đảng và Nhà
nước ta cùng với các tổ chức chính trị - xã hội khác đã luôn chú trọng đến công
tác thanh niên, quan tâm, bồi dưỡng giáo dục thanh niên về đạo đức, lối sống,
bản lĩnh chính trị, hướng tới xây dựng lớp người kế tục mục tiêu, lý tưởng của
Đảng “Xây dựng nước Việt Nam độc lập dân tộc gắn liền với Chủ nghĩa xã
hội”. Trên cơ sở các quan điểm chỉ đạo, định hướng của Đảng và vai trò, trách
nhiệm của tổ chức đối với công tác giáo dục cho thanh niên, trong thời gian
1
trong cơ chế thị trường” (Trong cuốn: Mấy vấn đề đạo đức trong điều kiện
kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay, Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Văn
Phúc đồng chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003), tác giả Nguyễn
Văn Phúc cho rằng, nền kinh tế thị trường, bên cạnh những mặt tích cực, còn
có những ảnh hưởng, tác động tiêu cực tới nhân cách mỗi người. Đó là sự vị
kỷ, chỉ biết tới lợi ích cá nhân mà bỏ qua lợi ích cộng đồng, xã hội; là sự vô
cảm, thờ ơ trong mối quan hệ giữa người với người; là sự “lệch chuẩn”… Vì
vậy, theo tác giả, giáo dục đạo đức góp phần không nhỏ vào việc đánh thức
lương tâm, đề kháng được các chuẩn mực đạo đức xa lạ không phù hợp với
dân tộc, hình thành và củng cố trong con một niềm tin sâu sắc vào những giá
trị đích thực và lâu bền của con người…[8, tr.215-222].
Bên cạnh những công trình trên, những công trình đi sâu phân tích về
đạo đức truyền thống Việt Nam cũng có ý nghĩa quan trọng tạo ra một cái nhìn
toàn diện và sâu sắc trong quá trình giáo dục đạo đức ở Việt Nam hiện nay,
trong đó phải kể đến công trình Luận án “Giá trị đạo đức truyền thống với việc
xây dựng đạo đức mới cho thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay” của tác giả Ngô Thị
Thu Ngà năm 2011 tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh; “Xây dựng
nhân cách con người Việt Nam hiện nay dưới góc độ truyền thống” của tác giả
Cao Thu Hằng (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016)…
Thứ hai, những nghiên cứu về giáo dục đạo đức cho thanh niên:
- Công trình “Thanh niên và lối sống của thanh niên Việt Nam trong quá
trình đổi mới và hội nhập quốc tế” do Phạm Hồng Tung chủ biên tập trung làm
sáng tỏ những vấn đề cơ bản về thanh niên và lối sống của thanh niên; khảo sát
và phân tích tình hình thanh niên Việt Nam và lối sống của thanh niên trong
hơn hai thập kỷ đổi mới đất nước, thông qua đó chỉ ra những đặc trưng cơ bản
của thanh niên và đặc trưng lối sống của thanh niên; xu hướng biến đổi của
thanh niên trong hội nhập quốc tế, chỉ ra những yếu tố tác động cơ bản và đưa
ra các giải pháp nhằm xây dựng lối sống của thanh niên Việt Nam phù hợp với
nhiệm kỳ tới.
- Công trình“Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh – Những chặng
đường phát triển” do tác giả Vũ Quang Hiển chủ biên (Nxb Chính trị quốc gia
4
– sự thật, Hà Nội, 2014), đã tổng hợp nhiều bài viết của các tác giả khác nhau
với các nội dung: tái hiện những trang sử vàng của các thế hệ thanh niên Việt
Nam, khẳng định vai trò của lực lượng thanh niên Việt Nam trong quá trình hội
nhập và phát triển đất nước hiện nay; nêu ra nhiều quan điểm, đường lối của
Đảng, pháp luật của Nhà nước đối với thanh niên và công tác thanh niên trong
thời kỳ đổi mới; vai trò của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trong công tác vận động
thanh niên giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, trong giao lưu văn hóa
quốc tế,…
Thứ tư, những nghiên cứu về giáo dục đạo đức cho thanh niên của
Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh tỉnh Bắc Ninh:
Về cơ bản, việc giáo dục đạo đức cho thanh niên tỉnh Bắc Ninh cũng đã
được chú ý, quan tâm. Tuy nhiên, sự quan tâm này mới chỉ dừng lại ở mức độ
trong các báo cáo hàng năm, thường kỳ. Cho đến nay, chưa có một công trình
nào nghiên cứu một cách có hệ thống công tác giáo dục đạo đức cho thanh niên
tỉnh Bắc Ninh nói chung và công tác giáo dục đạo đức cho thanh niên trong
tỉnh của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh nói riêng. Tuy nhiên, các báo cáo này cũng
là tài liệu tham khảo quý để học viên tham khảo trong quá trình triển khai
nghiên cứu đề tài. Trong các báo cáo đó, có thể kể đến Báo cáo chính trị của
Ban Chấp hành Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tỉnh Bắc Ninh khóa XIII trình tại
Đại hội đại biểu Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tỉnh Bắc Ninh lần thứ XIV, nhiệm
kỳ 2017 – 2022 và Báo cáo tổng kết công tác giáo dục của Đoàn TNCS Hồ
Chí Minh tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2012 – 2017. Các báo cáo đã tổng kết,
đánh giá thực tiễn 05 năm (2012 – 2017) thực hiện chức năng giáo dục cho
đoàn viên, thanh niên Bắc Ninh của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh. Báo cáo cũng
thanh niên thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” do TS. Vũ Đăng Minh – Vụ
trưởng Vụ Công tác thanh niên làm Chủ nhiệm, năm 2012; Đề tài nghiên cứu
cấp bộ “Đặc trưng tâm lý tư tưởng của thanh niên dưới tác động của cơ chế thị
trường” do Trần Xuân Vinh làm Chủ nhiệm, năm 1992; Đề tài nghiên cứu cấp
bộ “Tình hình thanh niên thế kỷ XX – Những sự kiện quan trọng nhất” do ThS.
Phạm Bằng làm Chủ nhiệm, năm 1999; Chương trình nghiên cứu cấp bộ
“Những vấn đề lý luận và thực tiễn nâng cao hiệu quả công tác thanh vận trong
6
tình hình mới” do PGS.TS Nguyễn Đắc Vinh – Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành
Trung ương Đoàn làm Chủ nhiệm, năm 2014; “Quản lý nhà nước về công tác
thanh niên” của tác giả Nguyễn Vĩnh Oánh, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia,
năm 1995.
Nhìn chung, các cuốn sách, các công trình nghiên cứu, bài viết trên đều
rất phong phú về nội dung và có hàm lượng khoa học cao, đã có đóng góp nhất
định trong việc nêu rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về yêu cầu của việc
giáo dục đạo đức nói chung, giáo dục đạo đức cho thanh niên ở nước ta hiện
nay; đã làm sáng tỏ ở mức độ nhất định tác động của các điều kiện kinh tế, xã
hội, chính trị trong và ngoài nước tới sự biến đổi của đạo đức xã hội, đạo đức
thanh niên, đề ra một số phương hướng để nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức.
Tuy nhiên, một mặt, sự tổng quan của các công trình nghiên cứu, bài viết nói
trên phản ánh tầm quan trọng và yêu cầu bức thiết của vấn đề giáo dục đạo đức
cho thế hệ trẻ. Mặt khác, cũng cho thấy, việc giáo dục đạo đức cho thanh niên
tỉnh Bắc Ninh của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh hiện nay cũng chưa được tập
trung nghiên cứu một cách có hệ thống, bài bản và chuyên sâu. Vì vậy, việc
triển khai nghiên cứu đề tài “Giáo dục đạo đức cho thanh niên của Đoàn
Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh tỉnh Bắc Ninh hiện nay” mang tính cấp
thiết đối với thanh niên tỉnh Bắc Ninh hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
nước tổ chức giáo dục đạo đức cho thanh niên của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, cùng các phương pháp nghiên
cứu khoa học cụ thể như: Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận
chung về tổ chức giáo dục đạo đức cho thanh niên của Đoàn TNCS Hồ Chí
Minh hiện nay.
- Kết quả nghiên cứu luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho công tác
nghiên cứu, giảng dạy, tổng kết thực tiễn và có ý nghĩa khuyến nghị trong việc
8
nâng cao vai trò tổ chức giáo dục đạo đức cho thanh niên của Đoàn TNCS Hồ
Chí Minh nói chung, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tỉnh Bắc Ninh nói riêng trong
tình hình hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về tổ chức giáo dục đạo đức cho
thanh niên của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh.
Chương 2: Thực trạng tổ chức giáo dục đạo đức cho thanh niên của
Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tỉnh Bắc Ninh hiện nay.
Chương 3: Một số phương hướng và giải pháp cơ bản nâng cao chất
lượng tổ chức giáo dục đạo đức cho thanh niên của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh
tỉnh Bắc Ninh.
9
Từ góc độ sự trưởng thành, thanh niên được xem là giai đoạn phát triển
chuyển tiếp từ thiếu nhi sang giai đoạn hoạt động tương đối độc lập với tư cách
là một công dân có trách nhiệm. Theo đó, những cá nhân đạt đến một độ tuổi
nhất định về mặt pháp lý tùy theo từng quốc gia, thì được coi là đã đạt tới tuổi
trưởng thành về tuổi tác, nhận thức và phải chịu trách nhiệm về các hành vi của
mình. Sự trưởng thành này là phép đo của sự trưởng thành về sinh lý, thể chất,
cũng như trong suy nghĩ, nhận thức, tích lũy về kinh nghiệm sống và trình độ
học vấn qua thời gian; khả năng giao tiếp, thấu hiểu, kết nối và duy trì các mối
quan hệ xã hội, bộc lộ năng lực hoạt động trong một môi trường văn hóa, xã hội
đặc thù. Mức độ trưởng thành còn thể hiện qua khả năng đóng góp cho nền kinh
tế – xã hội từ góc độ kinh tế học, thanh niên được xem là một lực lượng to lớn
và nguồn bổ sung quan trọng hàng đầu cho lực lượng lao động trên tất cả các
lĩnh vực, quyết định đến sự phát triển có hiệu quả của cả nền kinh tế – xã hội.
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, triết học Mác – Lênin
định nghĩa con người là khái niệm chỉ những cá thể người như một chỉnh thể
trong sự thống nhất giữa mặt sinh học và mặt xã hội của nó. Con người vừa là
sản phẩm của sự tiến hoá lâu dài từ giới tự nhiên và giới sinh vật, vừa là sản
phẩm hoạt động của chính bản thân con người, “là thực thể thống nhất giữa các
yếu tố sinh vật và các yếu tố xã hội” [5, tr. 520]. Theo đó, thanh niên là một giai
đoạn phát triển nhất định của cơ thể con người, do đó, nó mang những bản chất
đặc trưng của con người, nó là một khái niệm dùng để chỉ một bộ phận người
tồn tại ở một độ tuổi nhất định trong một giai đoạn xác định, một không gian
nhất định có thể của một dân tộc, một quốc gia hoặc thậm chí là quy mô của cả
xã hội loài người, với những đặc điểm sinh học, tâm lý và sự phát triển nhận
thức ở một trình độ nhất định.
Tại Việt Nam, Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 25 tháng 7 năm 2008 của
Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Khóa X khẳng định “Thanh niên là lực
lượng xã hội to lớn, một trong những nhân tố quan trọng quyết định tương lai,
về tái hòa nhập với cộng đồng.
1.1.2. Khái niệm Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh
Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (3/2/1930), Đảng đã thấy rõ tầm
12
quan trọng của việc xây dựng tổ chức Đoàn. Tại hội nghị Ban Chấp hành lần
thứ hai họp từ ngày 20 đến 26/3/1931, Trung ương Đảng đã giành 01 ngày
trong thời gian hội nghị để bàn và quyết định những vấn đề quan trọng về công
tác vận động thanh niên của Đảng. Xuất phát từ ý nghĩa đặc biệt ấy, được sự
đồng ý của Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại hội Đoàn toàn quốc lần
thứ III (họp từ ngày 22 đến 25/3/1961 tại Hà Nội) đã quyết định lấy ngày
26/3/1931 là ngày thành lập Đoàn.
Đoàn bao gồm những thanh niên tiên tiến, phấn đấu vì mục tiêu, lý
tưởng của Đảng là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh. Điều lệ Đoàn khẳng định: Đoàn
TNCS Hồ Chí Minh là tổ chức chính trị-xã hội của thanh niên Việt Nam, do
Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn
luyện” [22, tr.9]. Điều này phản ánh đầy đủ Đoàn là một tổ chức thanh niên
Cộng sản mang tính tiên tiến của giai cấp công nhân và tính quần chúng rộng
rãi của thanh niên Việt Nam thông qua việc tổ chức các phong trào, hoạt động
có tính chất xã hội, mỗi đoàn viên và cơ sở Đoàn đều được thể hiện tinh thần
xung kích cách mạng, thực hiện mục tiêu, lý tưởng của Đảng.
Đoàn có 3 đặc điểm cơ bản: là đội dự bị tin cậy của Đảng, thường xuyên
bổ sung lực lượng trẻ cho Đảng, Nhà nước và các ngành. Đoàn luôn luôn xác
định nhiệm vụ của mình là đội quân xung kích cách mạng tích cực tham gia
xây dựng Đảng và là người kế tục trung thành sự nghiệp cách mạng vẻ vang
của Đảng và của Bác Hồ; là trường học xã hội chủ nghĩa của thanh niên, tạo
môi trường đưa thanh niên vào các hoạt động giúp học tập rèn luyện và phát
triển nhân cách, năng lực của người lao động mới phù hợp với yêu cầu của xã
nước, tự cường dân tộc; kiên định lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội;
có đạo đức cách mạng, ý thức chấp hành pháp luật, sống có văn hóa, vì cộng
đồng; có năng lực, bản lĩnh trong hội nhập quốc tế; có sức khỏe, tri thức, kỹ
năng trong lao động tập thể; xung kích, sáng tạo làm chủ khoa học công nghệ
tiên tiến, vươn lên ngang tầm thời đại. Đoàn TNCS Hồ Chí Minh kế tục trung
thành, xuất sắc sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí
Minh; thường xuyên bổ sung lực lượng trẻ cho Đảng; tổ chức động viên đoàn
14
viên, thanh niên cả nước đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa [22, tr.10-11].
1.1.3. Khái niệm đạo đức
Ở phương Tây, danh từ đạo đức bắt nguồn từ tiếng Latinh là mos, moris,
nghĩa là lề thói. Ngoài ra, còn một danh từ nữa cũng hay được sử dụng là
ethicos, có gốc từ chữ Hy Lạp cũng có nghĩa là lề thói, tập tục. Theo nghĩa đó,
khi nói đến đạo đức là nói đến những lề thói, tập tục biểu hiện mối quan hệ
nhất định giữa người với người trong giao tiếp với nhau hàng ngày.
Ở phương Đông, người Trung Quốc cổ đại sớm đưa ra các học thuyết về
đạo và đức của họ. Theo đó, Đạo có nghĩa là con đường, đường đi, về sau khái
niệm này được vận dụng trong triết học nhằm chỉ con đường của tự nhiên. Sau
đó, đạo không chỉ là con đường của tự nhiên, mà còn có nghĩa là đường sống
của con người trong xã hội. Đức dùng để nói đến nhân đức, đức tính, là biểu
hiện của đạo nghĩa, là nguyên tắc của luân lý. Như vậy, đạo đức được hiểu như
những nguyên tắc, các quy định, các chuẩn mực xã hội nhằm điều tiết hành vi
của con người mà mỗi người sống trong đó cần phải tuân theo.
Từ cách tiếp cận mácxít, có thể hiểu: Đạo đức là một hình thái ý thức xã
hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội nhằm điều chỉnh
và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ
với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức
cảm đạo đức.
Giáo dục đạo đức là một trong những hoạt động nhằm góp phần chuyển
đạo đức xã hội thành đạo đức cá nhân. Đây cũng là quá trình mang những tri
thức, kinh nghiệm, chuẩn mực đạo đức xã hội thành những phẩm chất đạo đức
cá nhân, làm phát triển ý thức cũng như năng lực đánh giá và thực hiện hành vi
đạo đức, năng lực tham gia vào các quan hệ đạo đức xã hội của cá nhân. Giáo
dục đạo đức góp phần hình thành những quan điểm cơ bản nhất, những nguyên
tắc, quy tắc và chuẩn mực đạo đức trong từng cá nhân cụ thể; giúp họ xác lập
khả năng lựa chọn, đánh giá các hiện tuợng xã hội.
Giáo dục đạo đức cũng góp phần tích cực trong việc kế thừa và phát huy
16
các giá trị đạo đức truyền thống. Những giá trị đạo đức truyền thống chỉ có thể
được các thế hệ sau tiếp nhận thông qua giáo dục đạo đức như: thông qua giáo
dục tình yêu quê hương đất nước, lòng tự hào dân tộc, thế hệ trẻ sẽ tiếp nhận
được những giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc như lòng yêu
nước, yêu hòa bình, tôn trọng đạo lý, tinh thần đoàn kết…Nhờ các hoạt động
giáo dục đạo đức mà các thế hệ sau luôn kế thừa và phát huy các giá trị đạo đức
truyền thống tốt đẹp của dân tộc và nhờ vậy, các giá trị đạo đức truyền thống
của dân tộc ta không bị mai một. Quan điểm này cũng được Chủ tịch Hồ Chí
Minh nêu rõ trong Di chúc, theo Bác, tương lai của đất nước, của dân tộc nằm
ngay trong tay các thế hệ thanh niên: “Thanh niên là người tiếp sức cách mạng
cho thế hệ thanh niên già, đồng thời là người dìu dắt thế hệ thanh niên tương
lai” [59,tr.488].
Nói đến giáo dục đạo đức là nói đến chủ thể, nội dung, phương pháp,
hình thức giáo dục.
Về chủ thể giáo dục: tùy theo phạm vi, quy mô, và những điều kiện lịch
sử cụ thể khác nhau, chủ thể giáo dục đạo đức là khác nhau. Song, về cơ bản,
một cách chung nhất, người ta thường cho rằng, các chủ thể giáo dục đạo đức
Chủ thể thực hiện công tác giáo dục đạo đức cho thanh niên của Đoàn
TNCS Hồ Chí Minh là bộ máy từ Trung ương Đoàn đến các cơ sở Đoàn cấp xã,
phường, thị trấn. Để cụ thể hóa việc giáo dục đạo đức cho thanh niên, Ban Bí
thư Trung ương Đoàn đã xây dựng và thực hiện Đề án “Tăng cường giáo dục
đạo đức, lối sống, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng cho thanh thiếu niên giai đoạn
2013- 2020”.
Ban Bí thư Trung ương Đoàn báo cáo Ban Bí thư Trung ương Đảng về Đề
án để Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị về “Tăng cường sự lãnh
đạo của Đảng đối với công tác giáo dục đạo đức, lối sống, bồi dưỡng lý tưởng
cách mạng, cho thanh thiếu niên”. Trên cơ sở Chỉ thị của Ban Bí thư Trung
ương Đảng, Ban Bí thư Trung ương Đoàn báo cáo, đề nghị Chính phủ phê duyệt
18
Đề án, đầu tư kinh phí và chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương tổ chức thực hiện
trong nội dung công việc được phân công.
Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh thành lập Ban chỉ đạo thực hiện
Đề án, do đồng chí Bí thư Trung ương Đoàn phụ trách công tác tuyên giáo,
nghiên cứu lý luận và báo chí của Đoàn làm Trưởng ban chỉ đạo, đồng chí
Trưởng Ban Tuyên giáo Phó ban chỉ đạo, đại diện lãnh đạo các ban, đơn vị có liên
quan của Trung ương Đoàn là thành viên. Giao Ban Tuyên giáo Trung ương Đoàn
làm thường trực Ban chỉ đạo thực hiện Đề án. Nhiệm vụ của Ban chỉ đạo, gồm:
- Chỉ đạo các tỉnh, thành đoàn, đoàn trực thuộc căn cứ nội dung Đề án,
xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện.
- Phân công nhiệm vụ cho các thành viên, các đơn vị chuẩn bị và thực
hiện các nội dung của Đề án.
- Phối hợp với các bộ, ngành liên quan để triển khai thực hiện Đề án.
- Vận động các tổ chức, cá nhân, các doanh nghiệp trong và ngoài nước
Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm trong
việc thực hiện chính sách, pháp luật về thanh niên, công tác thanh niên.
Sơ kết, tổng kết việc thực hiện chính sách, pháp luật về thanh niên, quản
lý nhà nước về công tác thanh niên
1.2.2.1. Nội dung tổ chức giáo dục đạo đức cho thanh niên
Thứ nhất, giáo dục tình yêu quê hương đất nước, kiên định với con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Tình yêu quê hương, đất nước là một tình cảm thiêng liêng có truyền
thống ngàn đời nay của dân tộc Việt Nam ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng
viết: "Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu
của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi
nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự
nguy hiểm khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước"[63,
tr.38]. Giáo sư Trần Văn Giàu cũng khẳng định: chủ nghĩa yêu nước là sợi chỉ
đỏ xuyên qua toàn bộ lịch sử Việt Nam từ cổ đại đến hiện đại… Yêu nước trở
20
thành một triết lý xã hội và nhân sinh của người Việt Nam” [26, tr.100-101].
Tình yêu quê hương đất nước đã trở thành sức mạnh của mọi người dân Việt
Nam ta để chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược, giành độc lập, chủ quyền, thống
nhất toàn vẹn lãnh thổ và xây dựng đất nước ta như ngày hôm nay.
Giáo dục lòng yêu nước cho thanh niên phải bắt đầu từ việc giáo dục
cho họ nhận thức được tình yêu quê hương, đất nước, ý thức độc lập dân tộc
và xã hội chủ nghĩa gắn chặt với nhau, tạo nên sức mạnh của con người Việt
Nam trong thời đại mới. Do vậy, cần làm cho thanh niên hiểu rằng, có giữ
vững được độc lập dân tộc thì chúng ta mới xây dựng thành công chủ nghĩa xã
hội; đồng thời chỉ có thể đưa đất nước phát triển theo con đường xã hội chủ
nghĩa và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội thì nền độc lập dân tộc mới
được bảo đảm vững chắc. Sự gắn bó giữa độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội
kiệm… đây là những nét đặc sắc được giữ vững và nâng cao trong suốt chiều
dài lịch sử dân tộc, trở thành một tình cảm sâu sắc, thành những giá trị đạo
đức tốt đẹp được các thế hệ nối tiếp nhau nâng niu, trân trọng bồi đắp và giữ
gìn.
Truyền thống yêu thương, độ lượng, đoàn kết, sống có nghĩa tình với
con người là một trong những giá trị đạo đức nhân văn sâu sắc của dân tộc ta.
Những giá trị này được hình thành từ trong chính đau thương, mất mát qua các
cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc và cuộc sống lam lũ hàng ngày từ nền sản xuất
nông nghiệp trồng lúa nước của dân tộc Việt Nam. Điều đó thể hiện qua những
tình cảm: tình cảm đối với đấng sinh thành “Công cha như núi Thái Sơn/Nghĩa
mẹ như nước trong nguồn chảy ra”, tình anh em “như thể tay chân”, tình
nghĩa vợ chồng “đầu gối, tay ấp”; rộng hơn là tình làng xóm láng giềng “tắt
lửa tối đèn có nhau” và bao trùm hơn cả là tình yêu thương đồng loại “Nhiễu
điều phủ lấy giá gương/Người trong một nước phải thương nhau cùng”…
Lòng yêu thương và sống có nghĩa tình còn được biểu hiện trong sự tương
trợ, giúp đỡ nhau, lá lành đùm lá rách, thương người như thể thương thân.
Không chỉ biểu hiện trong đời sống hàng ngày, tình yêu thương, sự khoan
dung, độ lượng với con người của dân tộc Việt Nam còn là cơ sở của tinh thần
yêu chuộng hoà bình và tình hữu nghị với các dân tộc trên thế giới.
22
Đoàn kết cũng là một giá trị truyền thống có sức mạnh to lớn đối với
con đường đi lên của đất nước ta ở mọi thời đại. Trải qua thực tiễn trong cuộc
sống lao động cũng như chiến đấu, tinh thần đoàn kết dân tộc bền chặt càng
được đề cao và đã trở thành một triết lý nhân sinh sâu sắc như Bác Hồ đã dạy:
“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/Thành công, thành công, đại thành công”.
Trong sự nghiệp đổi mới, phát triển đất nước hiện nay, tinh thần đoàn kết dân
tộc càng có ý nghĩa hơn bao giờ hết, như Đảng ta nhấn mạnh “Kết hợp sức
mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc
của những con người cao quý” [47, tr.4].
Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay,
sự cần cù, sáng tạo đi đôi với thực hành tiết kiệm, yêu lao động, đề cao giá trị
và sáng tạo trong lao động sản xuất, đồng thời phải có đạo đức nghề nghiệp
càng trở nên có ý nghĩa thiết thực, bởi đây chính là động lực tiên quyết nhằm
tăng năng suất, năng lực cạnh tranh, thúc đẩy nền kinh tế đất nước phát triển,
qua đó thanh niên Việt Nam đóng góp một phần vào công cuộc xây dựng, bảo
vệ Tổ quốc.
Thứ tư, giáo dục đức tính khiêm tốn, giản dị, trung thực, ý thức tổ chức
kỷ luật cho thanh niên
Một trong những đức tính cần thiết nhất để có thể hòa nhập và có được
mối quan hệ tốt là đức tính khiêm tốn. Từ điển tiếng Việt đã định nghĩa về
khiêm tốn như sau: "Khiêm tốn là biết đánh giá cái hay của mình một cách vừa
phải và dè dặt" [84, tr.425]. Do vậy, khiêm tốn là một đức tính tốt đẹp của con
người nó thể hiện qua từng lời nói, cử chỉ và hành động của con người đối với
người đối diện một cách thật tâm nhất. Khiêm tốn giúp chúng ta sống tích cực
và làm phong phú thêm kiến thức, kinh nghiệm, uy tín, lòng tin, sự yêu mến.
Thực tế trong cuộc sống cho thấy, những người có đức tính khiêm tốn họ
không biểu lộ sự tự mãn, kiêu căng, bốc đồng… nói quá về những gì mình có,
đang làm, đang biết và nhờ vậy họ luôn tạo được sự gần gũi, đồng cảm của
những người xung quanh. Nhờ đó, họ kết giao được với nhiều người, các mối
quan hệ của họ cũng trở nên tốt đẹp, thân tình, bền chặt hơn. Đây là một đức
tính tốt mà mỗi thanh niên cần phải trau dồi, rèn luyện và cần phải được giáo
24
dục.
Giản dị theo Hồ Chí Minh là phong cách sống của con người mới.
Nghĩa là phải biết sống chừng mực, không cầu kì, xa hoa, ít lòng ham muốn
về vật chất, đúng thời, đúng hoàn cảnh. Người dạy thanh niên , trong lúc