MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ ĐẶC ĐIỂM TỰ
NHIÊN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 3
1.1. Tổng quan vấn đề ngiên cứu 3
1.1.1. Khái niệm về quản lý rừng bền vững 3
1.1.2. Những nghiên cứu về QLBVR trên thế giới 4
1.1.3. Những nghiên cứu QLBVR ở Việt Nam 8
1.1.4. Phân tích kết quả đã nghiên cứu: 13
1.2. Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu 13
1.2.1. Vị trí, ranh giới hành chính 13
1.2.2. Địa hình 16
1.2.3. Địa chất và thổ nhưỡng 16
1.2.4. Khí hậu 18
1.2.5. Thuỷ văn 22
1.3. Điều kiện kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu 23
1.3.1. Dân số, dân tộc 23
1.3.2. Tình hình phát triển kinh tế các xã khu vực nghiên cứu 25
1.3.3. Cơ sở hạ tầng 27
1.4. Đánh giá ảnh hưởng kinh tế xã hội đến công tác quản lý tài nguyên rừng tại Vườn
Quốc Gia Hoàng Liên 30
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
2.1. Nội dung 32
2.1.1. Tài nguyên rừng và thực trạng công tác quản lý tài nguyên rừng tại Vườn Quốc
Gia Hoàng Liên 32
2.1.2. Tìm hiểu các chính sách, pháp luật liên quan đến Quản lý bảo vệ rừng đã và
đang áp dụng tại VQG Hoàng Liên 32
2.1.3. Đánh giá hiệu quả các giải pháp đã và đang áp dụng trong quản lý bảo vệ rừng
tại Vườn Quốc Gia Hoàng Liên 32
2.1.4. Đề xuất một số giải pháp góp phần quản lý bền vững tài nguyên rừng tại Vườn
Quốc Gia Hoàng Liên 32
KBTTN : Khu bảo tồn thiên nhiên
NĐ 32 : Nghị định 32/2006/NĐ-CP ngày 30 tháng 3 năm 2006
QĐ : Quyết định
QLBVR : Quản lý, bảo vệ rừng
QLRBV : Quản lý rừng bền vững
RĐD : Rừng đặc dụng
RNĐTX : Rừng nhiệt đới thường xanh
SĐVN : Sách Đỏ Việt Nam
TFAP : Chương trình hành động rừng nhệt đới
UNCED : Hội nghị quốc tế về môi trường và phát triển
UNEP : Chương trình môi trường Liên hợp Quốc
(United Nations Enviroment Programme)
VQG : Vườn Quốc Gia
iii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1. 1. Tần suất xuất hiện các hiện tượng thời tiết đặc biệt ở VQG Hoàng Liên
21
Bảng 1.2. Dân số và mật độ dân số các xã vùng lõi 23
Bảng 1.3. Cơ cấu dân số theo giới tính và độ tuổi lao động các xã 23
Bảng 1.4. Phân bố và thành phần dân tộc ở các xã 24
Bảng 1.5. Bảng cơ cấu sử dụng đất của các xã vùng lõi VQG (ha) 26
Bảng 1.6. Đàn gia súc, gia cầm của các xã vùng lõi 27
Bảng 1.7. Tình hình cơ sở Y tế cá xã 29
Bảng 3.1. Hiện trạng các loại rừng và sử dụng đất rừng VQG Hoàng Liên 39
Bảng 3.2. Thành phần thực vật rừng VQG Hoàng Liên 41
Bảng 3.3. Các chỉ số đa dạng của hệ thực vật VQG Hoàng Liên 42
Bảng 3.4. Các họ đa dạng nhất hệ thực vật Hoàng Liên 43
Bảng 3.5. Các chi đa dạng nhất hệ thực vật Hoàng Liên 45
Bảng 3.6. Tổng hợp tài nguyên động vật Vườn Quốc Gia Hoàng Liên 48
Bảng 3.7. Giá trị tài nguyên động vật quý hiếm tại Vườn Quốc Gia Hoàng Liên 48
các xã Phúc Khoa, Trung Đồng và Thị trấn Tân Uyên, huyện Tân Uyên tỉnh Lai
Châu. Đây là cơ hội mới để VQG Hoàng Liên tổ chức quản lý thực hiện tốt công tác
bảo tồn và phát triển trên cơ sở tiềm năng và lợi thế của mình.
Nằm trong dãy núi Hoàng Liên có độ cao tuyệt đối chủ yếu trên 1.000m,
VQG Hoàng Liên hiện là nơi đang bảo tồn các hệ sinh thái rừng á nhiệt đới và
ôn đới còn lại ở Việt Nam. VQG Hoàng Liên được đánh giá là một trong những
trung tâm đa dạng sinh học bậc nhất nước ta. Khu vực quản lý của VQG Hoàng
Liên chủ yếu là rừng nguyên sinh với một thảm thực vật rừng kín thường xanh
á nhiệt đới núi cao và một hệ động thực vật rừng phong phú, đa dạng. Kết quả
điều tra của nhiều cơ quan khoa học đã chứng minh điều này; Về khu hệ thực
vật rừng có 2.432 loài thực vật có mạch thuộc 898 chi và 209 họ, thuộc 6
nghành. Trong đó có 23 loài được ghi trong sách đỏ thế giới IUCN và 72 loài
được ghi trong Sách đỏ Việt Nam và Nghị định 32. Trong đó 11 loài có nguy
cơ tuyệt chủng như bách xanh, Thiết sam, Thông tre, Thông đỏ, Đinh tùng, Dẻ
tùng v.v. Về khu hệ động vật đã thống kê được 555 loài động vật có xương
sống (thú 74 loài, chim 361 loài, bò sát 74 loài, lưỡng cư 46 loài).
Trong những năm qua Vườn Quốc Gia Hoàng Liên đã có nhiều cố gắng trong
công tác quản lý, bảo vệ tài nguyên rừng và bảo tồn đa dạng sinh học tuy nhiên việc
quản lý bảo vệ rừng của Vườn vẫn chịu nhiều sức ép như tệ nạn khai thác gỗ, củi và
1
lâm sản ngoài gỗ, xâm lấn diện tích rừng làm nương rẫy, đã và đang làm suy thoái
giá trị đa dạng sinh học vô cùng quý báu. Việc ngăn chặn những tác động làm tổn
hại đến tài nguyên đa dạng sinh học và quản lý bền vững tài nguyên rừng là nhiệm
vụ cấp thiết không chỉ của Vườn Quốc Gia Hoàng Liên mà còn là nhiệm vụ của các
cấp, các ngành và địa phương.
* Mục tiêu nghiên cứu:
Mục tiêu chung: Góp phần phát triển bền vững rừng khu vực VQG Hoàng
Liên thông qua quản lý bền vững tài nguyên rừng.
Mục tiêu cụ thể:
- Đánh giá được thực trạng quản lý tài nguyên rừng tại Vườn Quốc Gia Hoàng
rừng, điều chế rừng, Tuy nhiên, trong những năm gần đây, do nhận thức được vai
trò quan trọng của rừng với môi trường và sự phát triển bền vững nói chung, vấn đề
quản lý rừng bền vững nói riêng được người ta quan tâm nhiều hơn trong đó có cả
những chuyên gia lâm nghiệp, chủ rừng, chính quyền và nhiều tổ chức kinh tế - xã
hội khác.
Theo Tổ chức gỗ nhiệt đới quốc tế (ITTO) thì “QLRBV là quá trình quản lý
những diện tích rừng cố định, nhằm đạt được những mục tiêu là đảm bảo sản xuất
liên tục những sản phẩm và dịch vụ của rừng như mong muốn mà không làm giảm
đáng kể những giá trị di truyền và năng suất tương lai của rừng, không gây ra
những tác động tiêu cực của những môi trường vật lý và xã hội”[22].
Theo Tiến trình Helsinki thì QLRBV quản lý rừng và đất rừng một cách hợp
lý để duy trì tính ĐDSH, năng suất, khả năng tái sinh, sức sống của rừng, đồng thời
duy trì tiềm năng thực hiện các chức năng kinh tế, xã hội và sinh thái của chúng
trong hiện tại cũng như trong tương lai, ở cấp địa phương, cấp quốc gia và toàn
cầu, không gây ra những tác hại đối với các hệ sinh thái khác[22].
Hai khái niệm này đã nêu lên được mục tiêu chung của QLRBV là đạt được sự
ổn định về diện tích, bền vững về tính ĐDSH, về năng suất kinh tế và đảm bảo hiệu
quả về môi trường sinh thái của rừng. Tuy nhiên, vấn đề QLRBV cũng phải đảm
3
bảo tính linh hoạt khi áp dụng các biện pháp quản lý rừng cho phù hợp với điều
kiện cụ thể của từng địa phương được quốc gia và quốc tế chấp nhận.
Như vậy, QLRBV được hiểu là hoạt động nhằm ngăn chặn được tình trạng
mất rừng, mà trong đó việc khai thác lợi dụng rừng không mâu thuẫn với việc duy
trì diện tích và chất lượng của rừng, đồng thời duy trì và phát huy được chức năng
bảo vệ môi trường sinh thái lâu bền đối với con người và thiên nhiên. Quản lý rừng
bền vững nhằm phát huy đồng thời những giá trị về các mặt kinh tế, xã hội và môi
trường của rừng. Hệ thống những biện pháp kinh tế, xã hội và khoa học công nghệ
phục vụ quản lý rừng bền vững thường được xây dựng trên cơ sở những kết quả
nghiên cứu cụ thể về điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội của mỗi địa phương.
Mục tiêu cơ bản của QLRBV là đồng thời đạt được bền vững về kinh tế, bền
Trong giai đoạn đầu của thế kỷ 20, hệ thống quản lý tài nguyên rừng tập trung
đã thực hiện ở nhiều quốc gia, đặc biệt là ở những quốc gia phát triển [13]. Trong
giai đoạn này, vai trò của cộng đồng trong quản lỳ rừng ít được quan tâm. Vì vậy,
họ chỉ biết khai thác tài nguyên rừng lấy lâm sản và đất đai để canh tác nông
nghiệp, nhu cầu lâm sản ngày càng tăng đã dẫn đến tình trạng khai thác quá mức tài
nguyên rừng và làm cho tài nguyên rừng ngày càng bị suy thoái nghiêm trọng.
Nhằm khắc phục tình trạng khai thác rừng quá mức, các nhà khoa hoc cũng đã
nghiên cứu và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý rừng như: các nhà
lâm học Đức (G.L.Hartig - 1840:Heyer - 1883; Hundeshagen - 1926) đã đề xuất
nguyên tắc lợi dụng lâu bền đối với rừng thuần loaị đều tuổi; Các nhà lâm học Pháp
(Gournand - 1922) và Thuỵ Sỹ (H. Biolley - 1922) đã đề ra phương pháp kiểm tra
điều chỉnh sản lượng với rừng khai thác chọn khác tuổi, vv
Vào cuối thế kỷ 20, khi tài nguyên rừng đã bị suy thoái nghiêm trọng thì con
người mới nhận thức được rằng tài nguyên rừng là có hạn và đang bị suy giảm
nhanh chóng, nhất là tài nguyên rừng nhiệt đới. Nếu theo đà mất rừng mỗi năm
khoảng 15 triệu ha như số liệu thống kê của FAO thì chỉ hơn 100 năm nữa rừng
nhiệt đới hoàn toàn bị biến mất, loài người sẽ chịu những thảm hoạ khôn lường về
kinh tế, xã hội và môi trường [8].
Để ngăn chặn tình trạng mất rừng, bảo vệ và phát triển vốn rừng, bảo tồn
ĐDSH trên phạm vi toàn thế giới, cộng đồng quốc tế đã thành lập nhiều tổ chức,
tiến hành nhiều hội nghị, đề xuất và cam kết nhiều công ước về bảo vệ và phát triển
rừng trong đó có chiến lược bảo tồn (năm 1980 và điều chỉnh năm 1991), Tổ chức
Gỗ nhiệt đới quốc tế (ITTO năm 1983), Chương trình hành động rừng nhiệt đới
(TFAP năm 1985), Hội nghị quốc tế về môi trường và phát triển (UNCED tại Rio
5
de Janerio năm 1992), Công ước quốc tế về buôn bán các loài động thực vật quý
hiếm (CITES), Công ước về đa dạng sinh học (CBD, 1992), Công ước về thay đổi
khí hậu toàn cầu (CGCC, 1994), công ước về chống sa mạc hoá (CCD, 1996). Hiệp
định quốc tế về gỗ nhiệt đới (ITTA, 1997). Những năm gần đây, nhiều hội nghị, hộ
thảo quốc tế và quốc gia về QLRBV đã liên tục được tổ chức [9]. Phân tích khái
là cấp quốc gia và cấp đơn vị quản lý [9]. Hiện nay, ở các nước đang phát triển, khi
sản xuất nông lâm nghiệp còn chiếm vị trí quan trọng đối với người dân nông thôn,
miền núi, thì quản lý rừng theo hình thức phát triển lâm nghiệp xã hội đang là một
trong những mô hình được đánh giá cao trên các phương diện kinh tế, xã hội và môi
trường sinh thái.
Với mục đích quản lý bền vững, các khu bảo vệ (protected areas) được thành
lập ngày càng nhiều, nhiều quốc gia trên thế giới đã quan tâm đến việc quản lý bền
vững các khu bảo vệ. Nhiều chính sách và giải pháp được đưa ra để áp dụng quản
lý rừng bền vững. Năm 1996, tại Vườn quốc gia Bwindi Impenetrable và Mgahinga
Gorilla thuộc Uganda, Wild và Mutebi đã nghiên cứu giả pháp quản lý, khai thác
bền vững một số lâm sản và quản lý bảo vệ tài nguyên thiên nhiên giữa ban quản lý
vườn và cộng đồng dân cư.
Trong báo cáo "Hợp tac quản lý với người dân ở nam phi - Phạm vi vận động"
của Moenieba Isaacs và Najma Mohamed (2000) đã nghiên cứu và đưa ra giải pháp
quản lý tài nguyên thiên nhiên bền vững tại Vườn quốc gia Richtersveld chủ yếu dựa
trên hương ước (Contractual Agreement) quản lý bảo vệ tài nguyên, trong đó người
dân cam kết bảo vệ ĐDSH trên địa phận của mình còn chính quyền và ban quản lý hỗ
trợ người dân xây dựng hạ tầng và cải thiện các điều kiện kinh tế - xã hội khác.
Tại Vườn quốc gia Kruger của Nam Phi (2000), nhằm bảo vệ tài nguyên bền vững,
Chính phủ đã trao quyền sử dụng đất đai, chia sẻ lợi ích từ du lịch cho người dân, ngược
lại người đân phải tham gia quản lý và bảo vệ tài nguyên tại Vườn quốc gia.
Theo Shuchenmann (1999), tại Vườn quốc gia Andringitra của Madagascar,
để thực hiện quản lý rừng bền vững, Chính phủ đảm bảo cho người dân được quyền
chăn thả gia súc và khai thác tài nguyên từ rừng phục hồi để sử dụng tại chỗ, cho
phép giữ gìn những tập quán truyền thống khác như có thể giữ gìn các điểm thờ
cúng thần rừng. Ngược lại, người dân phải đảm bảo tham gia bảo vệ sự ổn định của
các hệ sinh thái trong khu vực.
Theo báo cáo của Oli Krishna Prasad (1999), tại Khu bảo tồn Hoàng gia
ChitWan ở Nepal, để quản lý rừng bền vững, cộng đồng dân cư vùng đệm được
tham gia hợp tác với một số bên liên quan trong việc quản lý tài nguyên vùng đệm
hoá, phèn hoá ngày càng nghiêm trọng.
8
Ngoài các nguyên nhân mất rừng do sự gia tăng dân số, thiếu thốn về lương
thực, phá rừng lấy đất canh tác, khai thác lâm sản quá mức, rừng Việt Nam còn bị
ảnh hưởng bởi sự huỷ diệt trầm trọng của 2 cuộc chiến tranh kéo dài đã làm cho tài
nguyên rừng bị giảm sút vì bom đạn, chất độc hoá học tàn phá nặng nề. Nếu như tỷ
lệ che phủ của rừng nước ta năm 1945 là 43% thì đến năm 1976 chỉ còn 33,8%
[12]. Tỷ lệ che phủ thấp nhất là vào năm 1995 với 28,2%. Trong những năm gần
đây, sự nỗ lực của nhà nước với những chính sách đổi mới , những chương trình
trọng điểm quốc gia như Dự án 327, 661 đã làm cho diên tích rừng tăng lên một
cách rõ rệt. Đến năm 2000, tỷ lệ che phủ rừng của cả nước đã nâng lên 33,2% [1] và
đến cuối năm 2010 là 39,5% [3].
Trước những biến đổi mạnh mẽ của môi trường và hiểm hoạ sinh thái có thể
sẩy ra thì việc quản lý rừng bền vững ngày càng trở nên quan trọng. Phần lớn các
chương trình, dự án quốc tế hỗ trợ ngành lâm nghiệp hiện nay đều hướng vào
QLRBV. Những chương trình phát triển lâm nghiệp lớn của Nhà nước như chương
trình 327, 661, vv đều xem QLRBV là một trong những mục tiêu quan trọng. Lâm
nghiệp đang trở thành ngành kinh tế phát triển không chỉ nhờ vào khả năng cung
cấp hàng hoá lâm sản mà còn nhờ vào khả năng các hàng hoá và dịch vụ về môi
trường đáp ứng yêu cầu trong nước và quốc tế.
Theo tài liệu trong chiến lược phát triển ngành lâm nghiệp [1], trước năm 1945
quản lý lâm nghiệp được tổ chức theo hạt. Ranh giới hạt lâm nghiệp không phụ thuộc
nhiều vào ranh giới hành chính tỉnh, huyện mà là đơn vị quản lý nhà nước trong một
lãnh thổ có rừng, có chức năng thừa hành pháp luật. Trong thời kỳ này, toàn bộ rừng
nước ta là rừng tự nhiên đã được chia theo các chức năng để quản lý, sử dụng như sau:
+ Rừng chưa quản lý: Là những diện tích rừng ở những vùng núi hiểm trở, dân
cư thưa thớt, nhà nước thực chất chưa có khả năng quản lý, người dân được tự do sử
dụng lâm sản, đốt nương làm rẫy. Việc khai thác sử dụng lâm sản đang ở mức tự
cung tự cấp, lâm sản chưa trở thành hàng hoá.
+ Rừng mở để kinh doanh: Là những diện tích rừng ở những vùng có dân cư
đến thực hiện theo các quy trình, quy phạm, đảm bảo xúc tiến tái sinh tự nhiên.
Nhìn chung công tác, QLRBV được thống nhất quản lý từ Trung ương đến địa
phương. Sau ngày thống nhất đất nước, Nhà nước quản lý toàn bộ tài nguyên rừng
thông qua các lâm trường quốc doanh, người dân và cộng đồng đã bị tách rời
nguyên nhân cơ bản gây nên tình trạng suy thoái tài nguyên rừng một cách nhanh
chóng ở nước ta.
10
Trong nhiều năm qua, nền kinh tế nước ta đã có nhiều khởi sắc, lương thực đã
đủ ăn và phục vụ xuất khẩu, nhiều loại chất đốt đã thay thế một phần gỗ củi như
than, điện, ga, vì vậy, công tác quản lý sử dụng tài nguyên rừng đã có nhiều tiến
bộ. Nhà nước có nhiều điều kiện thuận lợi để làm tốt công tác quản lý, bảo vệ, xây
dựng và phát triển rừng. Cụ thể năm 1992, Chính phủ đã phê duyệt trương trình phủ
xanh đất trống đồi núi trọc (chương trình 327) giai đoạn 1993 - 1998; tiếp đó là Dự
án trồng mới 5 triệu ha rừng được thực hiện từ năm 1998 - 2010 với mục tiêu là xây
dựng, bảo vệ rừng để đảm bảo an toàn môi trường sinh thái, đồng thời thoả mãn nhu
cầu lâm sản phục vụ cho nền kinh tế quốc dân.
Hưởng ứng phong trào Quốc tế "Rừng và con người", tháng 6/1997 Bộ
NN&PTNT thay mặt Chính phủ nước ta đã ký cam kết bảo tồn ít nhất 10% diện tích
rừng gồm các hệ sinh thái rừng hiện có và cùng với cộng đồng Quốc tế, Việt Nam
sẽ tham gia thị trường lâm sản bằng các sản phẩm được dán nhãn là khai thác hợp
pháp từ các khu rừng đã được cấp chứng chỉ trong khối AFTA và WTO [7].
Hiện nay ở Việt Nam, tiêu chuẩn quốc gia về QLRBV được tổ công tác FSC
Việt Nam biên soạn trên sơ sở điều chỉnh bổ sung những tiêu chuẩn và tiêu chí quản
lý rừng của FSC quốc tế, có sử dụng những ý kiến đóng góp của các nhà quản lý và
sản xuất lâm nghiệp trong nước và trên thế giới, để vừa đảm bảo những tiêu chuẩn
quốc tế, vừa phù hợp với điều kiện thực tế ở Việt Nam và đã được ban Giám đốc
FSC quốc tế phê duyệt năm 1999. Do những tiêu chuẩn và những tiêu chí áp dụng
chung cho toàn quốc, đồng thời phải phù hợp với tiêu chuẩn chung của quốc tế nên
việc áp dụng không thể phù hợp hoàn toàn trong mọi trường hợp và mọi điều kiện ở
từng địa phương. vì vậy, khi áp dụng những tiêu chuẩn và những tiêu chí cần có sự
trúc rừng tự nhiên ở vùng Tây Nguyên để xem xét thực trạng sự hiểu biết, khả năng
ứng dụng sự hiểu biết về cấu trúc rừng tự nhiên trong kinh doanh rừng tự nhiên;
- Nghiên cứu phát triển bền vững vùng đệm Khu bảo tồn thiên nhiên và Vườn
Quốc gia của Trần Ngọc Lân và cộng sự (1999) thực hiện tại Vườn Quốc gia Pù
Mát [11], các tác giả đã đề xuất một số giải pháp về mặt xã hội và kinh tế để phát
triển bền vững vùng đệm của Vườn Quốc gia Pù Mát;
- Đánh giá tình hình khai thác sử dụng lâm sản ngoài gỗ và đề xuất giải pháp
quản lý rừng bền vững ở vùng đệm Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống của Suree và Đào
Thị Minh Châu (2004)[5], các tác giả đã đánh giá thực trạng và ảnh hưởng của việc khai
thác, sử dụng lâm sản ngoài gỗ đồng thời đã nêu ra được một số giải pháp về xã hội và
kỹ thuật nhằm quản lý rừng bền vững ở vùng đệm Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống;
- Dự án kết hợp bảo tồn và phát triển (Integrated Conservation and
Development - ICD) tại Vườn Quốc gia Cát Tiên do Quỹ Quốc tế về Bảo tồn thiên
12
nhiên (WWF) tài trợ (1997), trong dự án này chỉ đưa ra giải pháp đồng quản lý tài
nguyên trong đó đề cập đến sự tham gia quản lý tài nguyên rừng của cộng đồng địa
phương và các bên liên quan mà chưa đề cập đến các giải pháp khác nhằm QLRBV.
1.1.4. Phân tích kết quả đã nghiên cứu:
Các kết quả đã nghiên cứu trước đây đã đề cập đến công tác quản lý rừng bền
vừng ở những khu vực khác nhau và đã có những bài học kinh nghiệm quý báu
nhưng khu vực nghiên cứu của đề tài này đề câp đến khu vực có điều kiện đặc biệt
khó khăn là các đồng bào dân tộc sồng trong vùng lõi khu bảo tồn rừng đặc dụng
nên đề xuất các giải pháp trong đề tài đặc biệt quan tâm đền việc phát triển kinh tế
xã hội địa phương, phát triển kinh tế của các hộ gia đình sống trong vùng lõi và
vùng đệm để từ đó làm giảm những áp lực đến tài nguyên rừng.
Tuy các kết quả nghiên cứu liên quan đến quản lý rừng ở khu vực còn chưa
đầy đủ và có tính hệ thống, nhưng những kết quả nghiên cứu đó sẽ là những tài liệu
tham khảo có giá trị cho việc nghiên cứu một số giải pháp chính áp dụng cho công
tác quản lý sử dụng rừng theo hướng tổng hợp và bền vững trên địa bàn Vườn Quốc
Gia Hoàng - tỉnh Lào Cai.
- Phía Bắc giáp xã Tả Giàng Phình, Tả Phìn, Bản Khoang, Trung Chải huyện
Sa Pa tỉnh Lào Cai.
Vùng lõi của VQG thuộc sườn phía Đông Bắc còn phần vùng đệm (thuộc
huyện Than Uyên) thuộc sườn Tây Nam.
14
Hình 1. 1. Bản đồ hành chính VQG Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai
15
1.2.2. Địa hình
Dãy núi Hoàng Liên là hệ thống các đỉnh núi cao trên 2000 m chạy theo
hướng Tây Bắc - Đông Nam. Đặc biệt, ở VQG có đỉnh núi Phan Si Phăng cao
3.143m so với mặt nước biển, được ví như “nóc nhà” của Việt Nam nói riêng và
Đông Dương nói chung. Các hệ núi chính của dãy núi thoải dần theo hướng Đông
Bắc và Tây Nam tạo thành hai sườn chính của dãy Hoàng Liên trong đó sườn Đông
Bắc thuộc huyện Sa Pa và sườn Tây Nam thuộc huyện Than Uyên. Phần lớn các
đỉnh núi có độ cao trung bình từ 2000 – 2500 m, còn nơi có bình độ thấp nhất phía
Sa Pa là xã Bản Hồ có độ cao là 380m. Càng về phía Nam các thung lũng càng bằng
phẳng, rộng hơn và đa số được đồng bào dân tộc sử dụng làm ruộng bậc thang. Các
dạng địa hình chủ yếu của VQG Hoàng Liên gồm núi cao, thung lũng, sườn núi đồi.
Mức độ chia cắt theo chiều ngang và chiều thẳng đứng rất mạnh tạo ra sự phức tạp
của địa hình và độ dốc lớn. Độ dốc trung bình phổ biến từ 20-30
o
, có nơi tới 40
o
và
dốc đứng. Hiện tượng sạt lở đất, lở núi đã xảy ra ở nhiều nơi trên các sườn núi cao.
Tuy nhiên, với địa hình chia cắt, hiểm trở và trải dài trên địa bàn rộng đã ảnh hưởng
rất lớn đến công tác quản lý bảo vệ rừng và bảo tồn đa dạng sinh học. Việc thực
hiện các công tác quản lý bảo vệ tại hiện trường như việc quản lý ranh giới gặp rất
nhiều khó khăn, công tác tuần tra, kiểm soát, theo dõi giám sát diễn biến rừng và đa
dạng sinh học, công tác điều tra cơ bản và nghiên cứu khoa học Việc đấu tranh
−Đất Feralit vàng đỏ vùng núi phát triển trên đá axit từ 300 - 600 m.
−Đất Feralit vàng đỏ núi cao phát triển trên đá biến chất từ 300 - 600 m.
−Đất Feralit biến đổi do trồng lúa.
−Đất dốc tụ trồng lúa.
Từ các loại đá mẹ gneis, granit lớp phủ thổ nhưỡng được phong hoá trong điều
kiện chủ yếu là thoát hơi nước tốt, trên các đai độ cao khác nhau, đất feralit hình
thành trong các điều kiện phong hoá địa hình cao, từ 500m trở lên, tính chất điển
hình của chúng không còn nữa. Tuy nhiên, quá trình feralit hoá trong một số trường
hợp vẫn còn xuất hiện ở những độ cao lớn hơn (tới 1600m). Từ độ cao 1600m, đất
chuyển sang loại đất nhiều mùn dạng thô thuộc loại alit trên núi cao.
Nhìn chung, các loại đất ở đây có tầng A1 và B1 phát triển, hàm lượng mùn
cao, phần lớn là dạng viên nhỏ, quá trình xói mòn và rửa trôi yếu, độ tơi xốp cao, độ
ẩm lớn, độ dầy tầng đất phổ biến là ở mức trung bình (từ 50 - 120 cm) thành phần cơ
17
giới thịt nhẹ, thịt trung bình (đối với các loại đất từ 1- 6) và thịt trung bình, thịt
nặng. Tính chất đất rừng còn thể hiện rõ, thuận lợi cho việc trồng và hồi phục lại
rừng. Trên địa hình dốc nên đất dễ bị rửa trôi và bào mòn, kết hợp với quá trình
hoạt động địa chất lâu dài, những hoạt động xâm thực, phong hoá, bồi tụ đã hình
thành nên các thung lũng phủ đầy phù sa màu mỡ nằm rải rác trong VQG Hoàng
Liên.
1.2.4. Khí hậu
Đặc điểm của các yếu tố khí hậu: Với vị trí ở phía Đông của dãy Hoàng Liên,
có địa hình phức tạp nên chế độ khí hậu khu vực VQG Hoàng Liên cũng bị phân
hóa mạnh mẽ theo độ cao và hướng địa hình. Một đặc trưng của khí hậu Hoàng
Liên là hầu như quanh năm ở tình trạng ẩm ướt. Mùa đông, frôn cực đới thường bị
chặn lại trên sườn Đông dãy Hoàng Liên, tồn tại nhiều ngày mưa dai dẳng trên toàn
vùng. Kết quả ở đây hầu như mất hẳn thời kỳ khô hanh nửa đầu mùa đông tiêu biểu
cho miền khí hậu phía Bắc; Độ ẩm tương đối trung bình năm khoảng trên 85%,
tháng ít mưa nhất trung bình cũng đạt trên 20-30 mm. Đặc biệt hiện tượng mưa
phùn cuối mùa đông diễn ra mạnh mẽ vì các thung lũng mở rộng về phía đồng bằng
o
C/100 m và tháng 1 từ 65 -125
o
C/100 m, chính vì vậy
18
nên lãnh thổ nghiên cứu có đối lưu nhiệt tương đối mạnh quanh năm, mùa hè mạnh
hơn mùa đông, sườn tây mạnh hơn sườn đông.
− Chế độ mưa:
lượng mưa phân bố
không đều giữa các tháng
trong năm, đặc biệt vào
các tháng mùa hè, lượng
mưa tương đối cao. Mùa
mưa bắt đầu từ giưa
tháng 3 đến giữa tháng
10, trong đó hai tháng có
lượng mưa lớn là tháng 7
(454,3 mm) và tháng 8
(453,8 mm). Vào mùa
đông, do nhiệt độ hạ
thấp, hạn chế lượng bay
hơi nước vì vậy, đây là
khoảng thời gian mưa ít
nhất trong năm, lượng
mưa trung bình tháng
khoảng 50 - 100 mm,
thấp nhất vào tháng 12
(63,6mm) nhưng do nhiệt
độ thấp nên thấy rằng
khu vực Hoàng Liên
đông, nhỏ nhất vào các tháng 12 và tháng 1 (3,5 - 8,5 kcal/cm
2
/tháng). Cân bằng
bức xạ của mặt đệm có chỉ số trung bình năm phổ biến từ 56 - 76 Kcal/cm
2
. Khoảng
56% năng lượng tích luỹ này dùng để bốc hơi nước và 44% dùng cho chuyển động
loạn lưu. Biến trình năm của cân bằng bức xạ của mặt đệm cũng có dạng một đỉnh
lớn vào các tháng mùa hè, lớn nhất vào tháng 5 và tháng 7 (7 - 8 kcal/cm
2
/tháng)
nhỏ vào các tháng mùa đông, nhỏ nhất vào tháng 1 và tháng 12 (1 - 4,5
kcal/cm
2
/tháng).
- Các hiện tượng thời tiết đặc biệt: Ngoài những yếu tố thời tiết chung, VQG
Hoàng Liên còn có những hiện tượng thời tiết đặc biệt như: sương mù, băng giá, mưa
phùn, giông, sương muối, mưa đá, băng tuyết cũng làm ảnh hưởng tới công tác bảo
vệ phát triển rừng.
20