BÀI CA LÀM VÍA
!"#$%&
Chuyên ngành: '()*+,-(./0(
1!23453
678
19
Tôi xin chân thành cảm ơn Phó giáo sư-Tiến sĩ Phạm Thu Yến suốt thời
gian qua đã nhiệt tình, chu đáo chỉ dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Xin cảm ơn quý thầy cô trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội, đặc biệt là các
thầy cô trong tổ bộ môn Văn học dân gian đã tận tâm hướng dẫn, giảng dạy chúng
tôi trong suốt thời gian qua.
Xin cảm ơn văn phòng khoa Văn; phòng Sau Đại học trường Đại Học Sư
Phạm Hà Nội; gia đình và bạn bè đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, nhiệt tình giúp đỡ
tôi trong suốt thời gian làm luận văn.
Tác giả luận văn
2
1
Trang
3
:!
7;1<,+)*(=>?@/A
1.Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, mỗi dân tộc mang dầy đủ những đặc
trưng riêng của từng vùng, từng miền. Dân tộc Mường là một trong 54 dân tộc thiểu
số ở nước ta có nét đặc trưng riêng trong văn hóa dân tộc biểu hiện qua ngôn ngữ,
trang phục, dân ca, phong tục tập quán, tín ngưỡng Trong số các dân tộc thiểu số ở
Thanh Hoá, dân tộc Mường có dân số đông nhất. Đồng thời, giữ vai trò quan trọng
trong sự nghiệp phát triển kinh tế - văn hoá xã hội và an ninh quốc phòng ở miền
núi Thanh Hoá. Cư dân Mường thường cư trú ở vùng thung lũng chân núi, làm ăn
đem đến cho mọi người những hiểu biết cụ thể về một nghi lễ mang những nét văn hóa
của địa phương mình, và hơn thế nữa làm nổi bật lên những giá trị văn học về cả nội
dung và nghệ thuật trong bài dân ca Làm vía - Mường . Với việc triển khai đề tài này
người viết mong muốn có thể đóng góp một phần nhỏ bé vào công việc nghiên cứu
cũng như sưu tầm nét văn hóa làm Vía đặc sắc của người Mường Thạch Thành.
6;1Q+)DRST(=>A
Dân tộc Mường trên đất nước Việt Nam là một tộc người mang những nét
văn hóa đặc sắc. Những nét văn hóa đó hiện nay đang được Đảng và nhà nước quan
tâm sưu tầm, phát triển và lưu giữ.
Hội văn nghệ dân gian Việt Nam được thành lập ( 01/01/1976) chính là một tổ
chức của nhà nước giữ trọng trách này. Mục đích của hội là “ Sưu tầm nghiên cứu,
phổ biến và truyền dạy vốn văn hóa, văn nghệ dân gian các tộc người Việt Nam”.
Nền văn hóa Mường đã được tìm hiểu từ rất lâu, ở cả những người nghiên
cứu sưu tầm trong nước và cả những người nghiên cứu nước ngoài. Vùng đất mà
các nhà dân tộc học quan tâm khảo sát đó là Hòa Bình, bởi vùng đất này được mệnh
danh là đất cổ, là cái nôi sinh ra họ.
Tuy nhiên người Mường không chỉ cư trú ở Hòa Bình mà còn sống ở rất nhiều
các vùng đất khác đó là Phú Thọ,Thanh Hóa,Sơn La Thanh Hóa là một trong những
nơi tập trung đông người Mường với những nét văn hóa riêng so với người Mường ở
Hòa Bình hay Phú Thọ. Và cho đến giai đoạn hiện nay, bắt đầu từ những năm 1980 bản
sắc văn hóa của người Mường Thanh Hóa mới được quan tâm, tìm hiểu.
2
Nghi lễ làm vía và “ bài ca làm vía” của người Mường ở Thanh Hóa thuộc
tín ngưỡng vía của dân tộc Mường. Khi nghiên cứu về vấn đề này đã có một số công
trình như sau:
1. Năm 2010, nhà nghiên cứu Hoàng Anh Nhân của Hội văn nghệ dân gian
Việt Nam đã cho xuất bản cuốn “ Tín ngưỡng vía trù của người Mường” ( do nhà
xuất bản Dân Trí in năm 2010). Đây là cuốn sách giới thiệu về nghi lễ “ Vía trù” của
người Mường, bên cạnh phần lễ là bài dân ca được sử dụng trong nghi lễ đặc biệt
này. Cuốn sách đã cho chúng ta thấy quan niệm của người Mường về “Vía”. Theo
nghi lễ “ Vái Mụ”. Phần văn bản này gồm có bài “ Mo vái Mụ” và bài “ Thức Si
dậy” cùng với 15 bài Khu làm trò.
4. Công trình thứ năm mà theo người viết công trình này đã phần nào thể hiện
được những nét đặc sắc trong tín ngưỡng dân gian Mường Thanh Hóa. Đó là công
trình “ Tín ngưỡng dân gian Mường Thanh Hóa” phần “ Tín ngưỡng Vía” của tác
giả Hoàng Anh Nhân. Công trình này đã giới thiệu ba nghi lễ và ba bài ca làm vía
của người Thanh Hóa:
- Thứ nhất đó là lễ gọi vía trẻ bị lạc
- Thứ hai là lễ cầu vía hết năm
- Thứ ba là lễ cầu vía cho con gái
Các nghi lễ này được giới thiệu về cả phần lễ và phần lời ca, cả phần Tiếng
Mường và phần Tiếng Việt. Tuy nhiên nghi lễ làm vía vẫn chưa thực sự cụ thể. Đây
chính là lí do để người viết lựa chọn nghiên cứu nghi lễ cũng như bài ca làm vía kéo
si để triển khai làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.
5. Công trình thứ 6 chính là Khóa luận tốt nghiệp của tác giả vào năm 2012
với đề tài: “ Khảo sát bài ca làm vía kéo si” của người Mường ở huyện Thạch
Thành, tỉnh Thanh Hóa. Trong công trình này người viết đã giới thiệu khá cụ thể về
nghi lễ làm vía kéo si và phân tích những nét đặc sắc trong nội dung và nghệ thuật
của “ bài ca làm vía kéo si”.
Thông qua quá trình đi khảo sát thực tế người viết nhận thấy rằng nghi lễ “
và bài ca làm vía ” đã tồn tại rất lâu đời trong đời sống tín ngưỡng của người dân
Mường Thạch Thành chứng tỏ nét tâm linh này đã ăn sâu vào tiềm thức của nhân
4
dân. Nhìn nhận vấn đề, người viết thấy rằng cần phải bảo lưu những nét văn hóa tinh
thần mang đậm bản sắc dân tộc ở địa phương.
U;V+=<+)S@()/LWSV(.)/X(+YJ
3.1. Mục đích nghiên cứu
- Làm nổi bật lên vai trò của những nghi lễ làm vía trong đời sống tinh thần của
người dân Mường Thạch Thành.
- Cho mọi người thấy được những cái hay trong nội dung cũng như đặc sắc trong nghệ
Văn Dung thực hiện. ( diễn ra vào 15/10/2014).
2. Nghi lễ làm vía tại gia đình cháu Nguyễn Văn Nam, 4 tuổi, ở thôn Yên
Lão, xã Thành Tân, huyện Thạch Thành, Thanh Hóa.( 30/11/2014).
- Làm vía hết năm:
1. Nghi lễ làm vía hết năm tại gia đình ông Quách Văn Quyền, thôn Phù Bản
xã Thành Tân, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa. ( 25/12/2014 âm lịch)
2. Nghi lễ làm vía hết năm tại gia đình ông Bùi Văn Quân thôn Yên Lão, xã
Thành Vân, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa. (28/12/2014 âm lịch).
- Làm vía cho người già( làm vía kéo si)
1. Nghi lễ làm vía kéo si tại gia đình ông Bùi Văn Mợ, ở thôn Tiên Quang,
xã Thành Vân, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa. ( 25/3/2015).
2. Nghi lễ làm vía kéo si tại gia đình bà Bùi Thị Tám ở thôn Sồi, xã Thành
Minh, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa. ( 26.5/2015).
- Chúng tôi đã tiến hành ghi âm, quay phim và chụp ảnh các nghi lễ diễn ra
kể trên.
Qua quá trình tìm hiểu chúng tôi nhận thấy: hai bài ca nghi lễ “ làm vía gọi
trẻ lạc, làm vía hết năm” mà chúng tôi khảo sát ở huyện Thạch Thành là hai bài ca
đã được tác giả Hoàng Anh Nhân sưu tầm và tuyển chọn trong công trình “ Tín
ngưỡng dân gian Mường Thanh Hóa”, vì vậy chúng tôi sử dụng tài liệu nghiên cứu
là công trình: “Tư liệu tín ngưỡng dân gian Mường Thanh Hóa, Tín ngưỡng vía.
NXB Lao động” - Cụ thể là chúng tôi nghiên cứu hai bài ca “ Làm vía gọi trẻ lạc
và làm vía hết năm” và những nghi lễ cụ thể diễn ra tại huyện Thạch Thành.
- “Bài ca làm vía kéo si” và nghi lễ làm vía cho người già được chúng tôi
tiến hành ghi âm, chụp ảnh. Phần lời chúng tôi nhờ ông thầy Mo Bùi Văn Dung
dịch lại sang tiếng Việt.
6
- Ngoài ra chúng tôi còn tìm hiểu thêm một số tài liệu viết về dân ca của dân
tộc Mường để so sánh về nội dung và một số phần trong kết cấu văn bản của các
bài ca làm vía, cụ thể là:
1. Dân ca Mường. Phần tiếng Mường
các phương pháp sẽ mang lại hiệu quả tối ưu trong quá trình nghiên cứu bài ca này
8;)f(.=O(..O]Wg/+F0^Jh(S'(
- Lần đầu tiên bài dân ca nghi lễ làm vía của người Mường Thạch Thành
được nghiên cứu một cách độc lập và hệ thống dựa vào tính nguyên hợp của nó, và
một số phương diện về nội dung và nghệ thuật
- Luận văn đang và sẽ bước đầu lí giải được mối quan hệ trong nội dung của
bài ca làm vía với những quan niệm về thế giới, về phong tục tập quán của người
Mường trong đời sống thực tế.
i;[+V+^Jh(S'(A
Ngoài phần mở đầu, kết luận, Thư mục tham khảo, luận văn có kết cấu 3
chương cụ thể như sau:
)Ge(.A.)/^jS@,/j(kGg(.(.)/^jl@/+0^@WS<0P+F0(.GH/
GH(.I)JKL()M+))@()$?N())0()O0
)Ge(.Am/,J(.+F0()f(.@/+0^@WS<0
)Ge(.A.)L?)Jh?+F0()f(.@/+0^@WS<0
8
!
)Ge(.7
nop1n
l1qP !"#
$%&
1.1. Tổng quan về tộc người Mường
1.1.1. Quá trình hình thành dân tộc Mường
Huyền thoại khởi nguyên luận của người Việt Nam là truyền thuyết “ Con
Rồng- Cháu Tiên”, “ Con Lạc- Cháu Rồng” được ghi lại lần đầu tiên thành truyện
họ Hồng Bàng trong sách “ Lĩnh Nam chích quái”.
Theo huyền thoại này thì tổ tiên của người Việt được kể lại rằng: Mẹ Tiên
Âu Cơ là tiên trên núi xuống đã kết duyên với Bố Rồng Lạc ( Lạc Long Quân) từ
dưới biển lên, sinh trăm trứng, nở trăm con trai. Sau chia đôi, năm mươi con theo
dân tộc Việt- Mường có một tiếng nói chung. Vào đầu thê kỷ X, khi kinh đô chuyển
từ trung tâm Mường là Hoa Lư về Thăng Long ( năm 1010) thì tiếng Việt lúc ấy
mới tách khỏi tiếng Mường thành hai ngôn ngữ riêng.
Nhà dân tộc học J.Cuisinier trong tác phẩm chuyên khảo về người Mường đã
kết luận rằng hai dân tộc Mường và Việt cùng chung một nguồn gốc: cả về mặt văn
hóa vật chất lẫn về mặt văn hóa tinh thần, giữa hai tộc Mường và Việt không có sự
cách biệt nào lớn. Sự khác nhau trong sinh hoạt chỉ là tiểu tiết ( 37, tr 30).
Người Mường tự gọi tộc danh của mình là Mol, Mon, Moan, Mual ( nghĩa là
người). Người Mường tập trung chủ yếu ở phía Tây Thanh Hóa thuộc các huyện
miền núi. Khảo sát về nguồn gốc người Mường ở Thanh Hóa, Robequain viết:
"Trong nhóm người Mường ở Thanh Hoá, có một bộ phận tự cho là cư dân bản địa,
tuy vậy cũng phân biệt được trong nhóm người Mường ở Thanh Hoá một vài yếu tố
Bắc kỳ vào nhất là từ Thạch Bi hay phổ biến hơn là Lạc Thổ. Cũng theo tác giả thì hình
như người Mường Bắc kỳ di cư vào tỉnh này bắt đầu từ một thời kỳ khá xa. Nhà thổ ty
phủ Môn (huyện Cẩm Thuỷ - tổng Cư Lữ) thuộc họ Trương cho rằng tổ tiên họ đã bị
một trận lụt ghê gớm đuổi từ phủ Nho Quan (tỉnh Ninh Bình) chạy vào đây từ lâu lắm,
ít ra cũng từ hai thế kỷ rồi Tuy nhiên không có một tài liệu nào ở nước ta khẳng định
10
rằng tất cả người Mường Bắc Thanh Hoá đều gốc ở Bắc kỳ, như đôi khi đã có người
nghĩ như vậy. Người Mường Bắc Thanh Hoá hiện là một khối có nền tảng lâu đời so
với các cư dân ở miền núi trong tỉnh" [37, tr40] Còn trong quan niệm của người
Mường ở Thanh Hóa, bộ phận người Mường có mặt từ lâu đời ở vùng núi xứ Thanh
gọi là "người Mường Trong", bộ phận người Mường từ các tỉnh khác di cư vào gọi là
"người Mường Ngoài ". Người Mường xứ Thanh được cấu thành ít nhất từ ba dòng
chính: gốc người Mường từ tỉnh Hoà Bình di dân vào tràn vào đất Thanh Hoá hầu hết
gồm các tộc hệ ở đất Mường Vang, Mường Thàng, Mường Động là các Mường lớn
của "bà con Hoà Bình". Tất nhiên chủ yếu vẫn là dân vùng Mường Bi, được gọi là
MọiBi hoặc MonBi. Bộ phận thứ hai là quá trình vận động của người Việt hoá, hoặc
Thái hoá. Bộ phận đáng chú ý nhất và cũng là cái lõi của vùng Mường xứ Thanh là tộc
Mường bản địa, tính bản địa của một bộ phận đáng kể này không pha tạp, không lẫn
1.1.2.1. Kinh tế:
Người Mường Thạch Thành làm ruộng từ lâu đời và sống định canh, định
cư. Nghề nông chiếm vị trí hàng đầu trong đời sống kinh tế và lúa là cây lương thực
chính.Người dân trồng lúa ở các thung lũng bên dưới các chân đồi. Đây là những
ruộng lúa màu mỡ, đem lại nguồn lương thực chính cho nhân dân trong huyện.
Bên cạnh việc làm ruộng, người dân còn trồng rừng, đây là cũng là mũi nhọn
kinh tế của vùng đất này. Cây trồng chủ yếu thường là cao su, keo, cây sao đen. Những
rừng cây đã góp phần vào việc nâng cao đời sống kinh tế cho nhân dân trong huyện.
Trồng trọt và chăn nuôi là hai ngành kinh tế chính trong huyện. Về chăn nuôi
người dân đã biết phát triển các loại vật nuôi như trâu, bò, lợn, gà, vịt vừa đảm
bảo sức kéo cho nông nghiệp vừa đảm bảo nhu cầu thực phẩm cho người dân trong
cuộc sống hằng ngày. Săn bắn là hoạt động phổ biến trong đời sống của người
Mường. Săn bắn kết hợp với sản xuất để chống thú rừng và bảo vệ mùa màng. Săn
bắn không những là một nguồn lợi cung cấp thức ăn mà còn là một thú vui. Đánh cá
là một nghề phụ trong gia đình và tương đối phát triển ở những khu vực ven các con
sông suối lớn. Các công cụ đánh cá khá đa dạng: lưới, vó, đơm, đó, đăng… J.
Cusinier nhận xét về nghề đánh cá và săn bắn như sau: “Nghề đánh cá tuy không có
giá trị to lớn đối với người dân Mường, song lại đem đến cho họ nguồn lợi thu
nhập ổn định hơn nghề săn”. (34,tr45).
12
Người Mường hái lượm theo mùa. Mỗi mùa có những loại rau khác nhau.
Theo thống kê mùa xuân có trên 60 loại rau, mùa hè trên 40 loại, mùa thu trên 20
loại và mùa đông khoảng 10 loại. Họ nắm vững chu kỳ sinh trưởng và phát triển của
từng loại cây trong rừng.
“Tháng sáu gặp nhau ở hố củ mài
Tháng chín dâu da đều chín”
Nghề thủ công trồng bông, kéo sợi, nhuộm sợi, dệt vải đặc biệt phát triển ở
người Mường. Các mặt hàng thổ cẩm, mặt gối, mặt chăn, cạp váy của người Mường
rất nổi tiếng.
Đặc trưng cơ bản trong nền kinh tế của người Mường Thạch Thành là: Trong
Franz Boas, nhà nhân chủng học người Mỹ đã từng khẳng định: “Mỗi nền
văn hóa là một tồn tại độc đáo, hơn thế là một của báu độc đáo; sự biến mất của
bất cứ nền văn hóa nào cũng làm cho chúng ta nghèo đi” [17, tr.12]. Di sản văn
hóa dân tộc là cơ sở để dân tộc hòa nhập với tiến trình giao lưu quốc tế về mọi
mặt nhưng không tự tha hóa mình mà còn làm phong phú, sâu sắc cho chính
mình trong sự đối thoại với những nền văn hóa khác, góp phần làm phong phú
cho kho tàng di sản chung của nhân loại.Ý thức cộng đồng trong dân tộc Mường
hình thành rất sớm, ý thức ấy là linh hồn của chủ thể sáng tạo xây dựng xã hội.
Nó định vị các mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên, con người với con
người, con người với thần linh.
Trong văn hóa ứng xử giữa con người với thiên nhiên người Mường luôn coi
trọng việc bảo vệ chăm sóc kho nguyên liệu ăn uống mà thiên nhiên ban tặng đã trở
thành ý thức của cả cộng đồng. Người Mường muốn ăn măng nứa, măng giang,
măng luồng nhưng rừng chưa mở cửa thì dù măng có mọc ngang sau nhà, họ cũng
không bao giờ hái.Sông và suối là nguồn nước sinh hoạt: nước tưới cho lúa, cho
màu, nước ăn uống, nước tắm giặt nên các dòng nước được mọi người tự nguyện
giữ gìn.Người Mường tâm niệm rằng: Nước là thứ nuôi sống con người, ai làm bẩn
nguồn nước là có tội. Người Mường rất có ý thức trong việc giữ gìn nguồn tài
nguyên vô giá mà thiên nhiên ban tặng cho họ. Vì đó là nguồn sống của họ, nền
kinh tế của họ chủ yếu dựa vào thiên nhiên.
14
Sinh hoạt văn hóa cộng đồng của người Mường cho phép trai gái giao lưu
tình cảm, bày tỏ lời thương tiếng nhớ với nhau. Chợ là nơi trao đổi hàng hóa vừa là
nơi giao lưu tình cảm. Trai gái đi chơi chợ gặp nhau trò chuyện, mời nhau về nhà ăn
cơm, uống rượu, đến cuối ngày mới về nhà. Trai gái Mường quan niệm:
“Thương nhau nằm gốc cà cũng ấm, nằm đống đá cũng êm.
Không thương thì chín lần đệm, mười hai lần chăn nửa đêm nằm vẫn còn
kêu lạnh”.
Nguyên tắc và nghệ thuật ứng xử của người Mường thể hiện rõ nhất khi có
khách đến nhà. Bất luận khách quen hay lạ, người Mường tiếp khách rất chu đáo.
tang. Họ quan niệm rằng: cùng chung một xóm mường với nhau thì là người thân.
Lễ hội cồng chiêng ra đời, tồn tại và phát triển trên nền tảng của nông nghiệp
lúa nước. Lễ hội được tổ chức hàng năm vào mùa xuân với ý nghĩa cầu phúc bản
mường, cầu cho mưa gió thuận hòa, mùa màng tốt tươi Chiêng được xem là vật
gia bảo truyền đời của người Mường, chiêng càng được truyền qua nhiều đời thì
càng quý. Cái quý là ý nghĩa của sự tiếp nối dòng đời, một tinh thần huyết thống gia
đình. Tết Nguyên Đán, Tết Cơm Mới… họ đánh chiếc chiêng cha ông truyền lại
đểmời tổtiên về. Chiêng là phương tiện “thông quan” giữa thế giới người sống với
thế giới người đã khuất.
Cũng như dân tộc Kinh, người Mường ở Thạch Thành đón tết Nguyên Đán
là lớn nhất trong năm. Vào dịp tết đến họ cũng gói bánh chưng và nấu bánh chưng
như những dân tộc khác trên đất nước Việt Nam. Tết là dịp để mọi người nghỉ ngơi
sau những ngày lao động vất vả, là dịp để mọi người đến thăm hỏi nhau, đặc biệt là
con cái đi tết bố mẹ. Vào dịp lễ tết người dân khắp các bản Mường vẫn còn giữ
được những nét văn hóa truyền thống với những trò chơi dân gian lâu đời đặc biệt là
trò “ đánh mảng”, người tham gia trò chơi này không phân biệt già, trẻ, gái, trai hễ
ai có hào hứng đều tham gia. Đây là một trò chơi thu hút được rất đông người cổ
vũ. “ Mảng” dùng để chơi là một loại hạt mọc ở ngoài rừng, có màu đen, tròn và rất
mịn, loại hạt này khi già đi sẽ tự khô và đen lại, mọi người mang về dùng vào trò
chơi. Sự cổ vũ hào hứng của mọi người đã làm cho không gian bản Mường ngày tết
rộn vang tiếng cười, tiếng nói, tạo nên khúc ca xuân tràn đầy vui tươi.
16
Ngoài lễ tết, người Mường còn ăn Rằm tháng giêng, tổ chức những trò chơi
vui nhộn như đánh còn, hát đối đáp. Những trò chơi này đã gắn kết cộng đồng
Mường lại với nhau khiến họ đoàn kết hơn, thương yêu và đùm bọc lẫn nhau hơn.
Vào các ngày lễ khác nhau trong một năm, như ngày rằm tháng bảy, rằm
tháng tám, người Mường thường làm những món ăn khác nhau đó là những đặc sản
của người Mường ở miền núi để cả gia đình cùng thưởng thức, quây quần bên nhau.
Trong những thập niên cuối thế kỷ XX, đời sống kinh tế xã hội nước ta có
những chuyển biến lớn tác động sâu sắc đến đời sống văn hóa của người Mường.
“Đàn bà mài dao không sắc
Đàn ông hái rau không ngon”
“Rượu trong thì ngọt, rượu bọt thì chua”[33, tr.47-50]
Bác Hồ đánh giá cao vai trò của tục ngữ trong đời sống: “Những câu tục ngữ,
ca dao, vè… rất hay là sáng tác của quần chúng… Những sáng tác là những viên
ngọc quý”[44, tr. 38].
Ca dao - dân ca Mường nổi tiếng với những bài hát cầu chúc vào dịp đầu
xuân, đặc biệt là hát sắc bùa (có nơi gọi là xéc - bùa). Có lẽ loại dân ca này xuất
hiện từ lúc người Việt và người Mường chưa tách ra thành người Kẻ Chợ với người
ở rừng núi. Tác giả Phan Đăng Nhật khẳng định: “sắc bùa, một sinh hoạt Tết phổ
biến ở nhiều dân tộc nước ta”. Sắc bùa phổ biến rộng rãi ở các vùng người Mường
Thanh Hóa, Hòa Bình, Lạng Sơn. [43, tr. 155].
Bên cạnh nét đặc sắc ấy văn học dân gian Mường còn có những bài dân ca
nghi lễ gắn liền với tín ngưỡng và đời sống sinh hoạt của người dân. Người
Mường từ bé đã có cảm xúc mạnh mẽ với dân ca của mình bởi từ tấm bé đến lúc
lớn lên và khi cao tuổi lúc nào cũng tiếp xúc với dân ca. Họ thưởng thức, sáng
tạo, lưu giữ và truyền bá dân ca cho nhau, do đó đã thành tiềm thức ăn sâu vào
tâm hồn của mỗi người.
Tuy chỉ là một phần nhỏ trong văn học dân gian Mường nhưng những bài
dân ca này có ý nghĩa rất lớn với người dân Mường. Mỗi bài ca mang một nội
dung khác nhau nhưng tất cả đều là tiếng nói trữ tình cất lên những ước nguyện của
nhân dân về cuộc sống, mong cho cuộc sống được bình yên, con người được sống
lâu mãi mãi. Những bài ca ấy còn thể hiện quan niệm cũng như lòng kính trọng của
mọi người với tổ tiên và các vị thần linh.
18
Những bài dân ca nghi lễ mà chúng tôi nghiên cứu gồm có: “ Bài ca gọi vía
trẻ lạc”, “ Bài ca làm vía hết năm”, “ Bài ca làm vía kéo si” chúng được nhà
nghiên cứu Bùi Thiện xếp vào thể loại “ Hát Mo” khấn phong tục- hay còn có tên
gọi khác là “ dân ca nghi lễ”.
Dân ca nghi lễ của các dân tộc thiểu số nói chung và của người Mường nói
và được giữ gìn cẩn thận.
Những vật dụng ấy gồm có: một khánh vía giống như một cái chuông nhỏ để
gọi hồn vía, một chầm sét là đồ cổ bằng đồng có niên đại rất lâu năm, một cái nanh
của con lợn lòi, một nanh hùm, một con dao lười ươi . Ngoài ra còn rất nhiều những
vật dụng khác nữa. Mỗi vật có một vai trò và ý nghĩa khác nhau. Mỗi ý nghĩa tạo
nên sự thành công cho toàn nghi lễ.
Thầy mo không chỉ có trí nhớ tốt để thuộc hàng trăm bài cúng, mà còn có giọng
đọc truyền cảm, nắm vững nghệ thuật diễn xướng từ cử chỉ, điệu bộ đến giọng điệu
mo, lời mo có khi hùng hồn, thiêng liêng, nhưng có lúc buồn đau bi thảm đến não
lòng. Lời mo giàu tính nhân văn, phù hợp với cuộc sống, gây được sự cảm động, sẻ
chia không chỉ đối với người đã khuất mà còn đối với cả những người còn sống.
Người làm cun làm đạo
Phải có sổ có sách
Người làm mo có cách
Làm cảo bằng cây nứa, cây dang
Cây nứa trong rừng, cây dang trên rẫy
Cây nứa hai ngọn hãy còn nguyên
Truyện cảo mới tin
( Bài ca làm vía hết năm, 33, tr 32)
Thầy mo không chỉ thông thạo văn tự cổ, lưu giữ được nhiều sách cổ, phong
tục tập quán, những lễ nghi của dân tộc, mà còn là người có khả năng giao tiếp và
cầu xin các đấng siêu nhiên phù hộ cho con người có cuộc sống ấm no hạnh phúc.
Cũng nhân đó thầy mo còn hướng dẫn con người cách thức ứng xử với các thế lực
siêu nhiên sao cho phù hợp với đạo lý và truyền thống văn hóa dân tộc và quy luật
của cuộc sống. Ông C.Robequain, một nhà nghiên cứu văn hóa dân gian người Pháp
nhận xét: “Người Mường ở Hòa Bình và Thanh Hóa, đặc biệt nổi tiếng nhờ có
những thầy mo cao tay nhất, rất được tôn kính mỗi khi nhắc đến. Từ họ như toát ra
20
một hương vị vẻ bí ẩn qua tập tục cổ truyền còn được nguyên vẹn của một thời đã
qua, có thể cho đó là trái tim thực sự của xứ Mường và quanh nó dường như đã
hóa dân tộc Mường, giúp cộng đồng hướng tới đích chân, thiện, mỹ trong cuộc sống.
1.2.2.2. Diễn xướng các nghi lễ làm vía của người Mường Thạch Thành
Trong tín ngưỡng dân gian của người Mường Thạch Thành tồn tại rất nhiều
nghi lễ làm vía: như làm vía cầu an lành, làm vía cho trẻ nhỏ, làm vía hết năm, làm vía
kéo si. Mỗi loại nghi lễ có một chức năng và tính chất riêng, vì vậy mỗi bài dân ca
chính là một nội dung độc đáo làm nên nét đặc sắc cho những tín ngưỡng dân gian.
Qua quá trình khảo sát thực tế, chúng tôi nhận thấy:
Ba nghi lễ làm vía: làm vía cho trẻ em ( gọi vía trẻ lạc); làm vía hết năm; làm
vía kéo si vẫn tồn tại thường xuyên trong đời sống của người Mường Thạch Thành.
Chúng tôi tiến hành khảo sát 6 buổi lễ ở 6 gia đình Mường Thạch Thành, với
niềm tự hào dân tộc sâu sắc mỗi nghi lễ truyền thống này ăn sâu trong đời sống tâm
thức của bản làng Mường. Chúng tôi khảo sát quá trình diễn xướng của mỗi nghi lễ
làm vía, trong quá trình khảo sát chúng tôi có sự so sánh, đối chiếu giữa cách thức
tiến hành nghi lễ của mỗi thầy Mo.
Với tấm lòng thành kính thiêng liêng, mỗi gia đình đều chuẩn bị rất chu đáo,
kĩ lưỡng đồ lễ và lễ vật cho nghi lễ. Mỗi thành viên trong gia đình đều ý thức được
sự quan trọng của nghi lễ diễn ra trong gia đình mình, vì vậy ai cũng tất bật với
công việc mình được giao.
7;6;6;6;7;1@WS<0+)?_`()rs.*/S<0^M+t
Lí do làm vía
Xuất phát từ cuộc sống đời thường, trong sinh hoạt, với quan niệm cho rằng
hồn vía của con người là một thực thể siêu hình vô cùng quan trọng, luôn gắn bó
với thân xác của con người bắt đầu từ lúc sinh đến khi trở về cõi vĩnh hằng. Đàn
ông thì có 7 vía, đàn bà có 9 vía, nếu như hồn vía lìa khỏi xác thì người sẽ chết,
hoặc lạc đi vài vía thì người luôn ốm đau bệnh tật và không may mắn trong cuộc
sống. Vì vậy, khi đến nhà của đồng bào Mường , bước chân lên cầu thang nhà sàn
sẽ thấy một chiếc giỏ đan bằng mắt cáo. Đó chính là “giỏ đựng vía”, nơi để vía từng
thành viên trong gia đình trú ngụ .
22