BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
----------------------------
NGUYỄN MẠNH TUẤN
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ MÔI TRƯỜNG
ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC THAN
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI, NĂM 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
----------------------------
NGUYỄN MẠNH TUẤN
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ MÔI TRƯỜNG
ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC THAN
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã ngành: 60 34 04 10
Luận văn thạc sĩ kinh tế
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS Hà Văn Sự
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
PHẦN MỞ ĐẦU
1.
v
vi
1
Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài luận văn
2. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan
3. Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu
4. Phạm vi nghiên cứu
1
2
4
5
5. Phương pháp nghiên cứu6
6. Kết cấu khóa luận văn: 6
1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ MÔI
TRƯỜNG ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC KHOÁNG SẢN TRÊN ĐỊA
BÀN CẤP TỈNH
26
iii
1.3.1. Các nhân tố thuộc về cơ chế chính sách của Nhà nước 26
1.3.2. Các nhân tố thuộc về bộ máy, năng lực và trình độ quản lý của chínhquyền
địa phương
27
1.3.3. Các nhân tố thuộc về trình độ phát triển của nền kinh tế - xã hội
1.3.4. Các nhân tố thuộc về doanh nghiệp và cộng đồng dân cư
1.3.5. Các nhân tố khác
27
28
28
Chương 2: PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ
NƯỚC VỀ MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC THAN
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH
30
2.2.5. Công tác thanh tra, kiểm tra xử lý vi phạm pháp luật về khoáng sản 62
2.3. ĐÁNH GIÁ CHUNG THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ MÔI
TRƯỜNG ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC THAN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
QUẢNG NINH THỜI GIAN VỪA QUA65
iv
2.3.1. Những thành công
65
2.3.2. Những hạn chế và nguyên nhân của hạn chế
66
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ
NƯỚC VỀ MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC THAN
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH ĐẾN NĂM 2020 VÀ NHỮNG NĂM
TIẾP THEO 68
3.1. MỤC TIÊU VÀ ĐỊNH HƯỚNG TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ
MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC THAN TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH QUẢNG NINH ĐẾN NĂM 2020 VÀ NHỮNG NĂM TIẾP THEO 68
3.1.1. Những dự báo và mục tiêu tăng cường quản lý nhà nước về môi trường đối
với hoạt động khai thác Than trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020 và những
năm tiếp theo 68
3.1.2. Định hướng tăng cường quản lý nhà nước về môi trường đối với hoạt động
khai thác Than trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020 và những năm tiếp theo
70
3.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ MÔI
82
82
v
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
vi
Chương 1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT
TẮT
Cụm từ viết tắt
HĐND
KCN
KTTĐ
TN&MT
TP, TX
TQN
UBND
VHVN
Giải nghĩa cụm từ viết tắt
Bảng 2.8
Tỉnh Quảng Ninh do Bộ TN&MT cấp
Thống kê hoạt động thanh kiểm tra về khoáng sản tại
Bảng 2.9
tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2013-2016
Số
trang
33
34
43
45
49
58
60
61
64
viii
DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1
Hình 2.2
Hình 2.3
Hình 2.4
Hình 2.5
Hình 2.6
tế, nên tình trạng khai thác khoáng sản bừa bãi gây suy thoái môi trường và
làm mất cân bằng hệ sinh thái đang diễn ra ở nhiều nơi, nhất là các hoạt động
của các mỏ khai thác than, quặng kim loại và vật liệu xây dựng của các doanh
nghiệp nhỏ, tư nhân. Các khu mỏ đang khai thác hiện nay hầu hết nằm ở vùng
núi và trung du cùng với công nghệ khai thác chưa hợp lý, nhất là đối với các
kim loại nên mức độ gây ô nhiễm, suy thoái môi trường, phá hủy rừng, hủy
hoại về mặt đất, ô nhiễm nguồn nước, đất canh tác, không khí..., đã ảnh
hưởng rất lớn đến hoạt động của các ngành kinh tế khác như nông nghiệp,
nuôi trồng thủy sản và du lịch. Điều đáng lo ngại, có đến 90% số cơ sở sản
xuất, kinh doanh khai thác, chế biến khoáng sản vi phạm pháp luật về bảo vệ
môi trường.
Ngày nay, vấn đề về môi trường không chỉ còn là vấn đề được quan tâm trên
thế giới mà ở Việt Nam, vấn đề này cũng đã được đề cập nhiều hơn, và được coi
như một yếu tố phát triển song hành cùng nền kinh tế. Chính vì vậy mà chính phủ
đã rất quan tâm và có nhưng công tác quản lý nhà nước về môi trường.
Quảng Ninh được biết đến là vựa than lớn nhất của nước ta. Hoạt động
khai thác than trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh đã được diễn ra từ rất lâu trước
2
đây và đến nay vẫn còn hoạt động mạnh mẽ. Tuy nhiên, việc khai thác than
nếu không đảm bảo thì không chỉ suy kiệt nguồn tài nguyên mà còn khiến cho
môi trường bị ô nhiễm gây ảnh hưởng đến đời sống của người dân khu vực
này mà còn tác động nghiêm trọng tới cả các lĩnh vực khác.
Những năm trở lại đây, tình trạng ô nhiễm môi trường sống tại tỉnh
Quảng Ninh, đặc biệt tại những khu vực gần nơi khai thác than ngày càng trở
lên nghiêm trọng. Ô nhiễm khói bụi, tiếng ồn và nguồn nước tại những khu
vực này khiến đời sống của người dân ở đây gặp nhiều khó khăn trong sinh
hoạt và ảnh hưởng lớn đến sức khỏe. Việc tác động xấu đến môi trường không
Luận án tiến sỹ của Đồng Thị Bích “ Nghiên cứu giải pháp kinh tế giảm
tổn thất than trong khai thác hầm lò ở các mỏ than thuộc tập đoàn công
nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam” năm 2017 của Đại học Mỏ địa chất. Luận
án đã đưa ra cái nhìn tổng quan của việc khai thác than tại các hầm lò và vấn đề
tổn thất than, các hướng giải pháp nhằm giảm thiểu sự tổn thất than và hiệu quả
kinh tế cho tập đoàn Than – Khoáng sản Việt Nam. Luận án tuy đã đưa ra được
tầm quan trọng đối với phát triển kinh tế của việc khai thác than nhưng không
nghiên cứu về lĩnh vực quản lý môi trường đối với hoạt động này.
Luận án tiến sỹ của Nguyễn Văn Sỹ “ Nghiên cứu ảnh hưởng dịch động
của đất đá do khai thác hầm lò để xác định mối quan hệ giữa khai thác hầm
lò và lộ thiên trong khu vực khoáng sàng Mông Dương – Khe Chàm” năm
2013 của Đại học Mỏ địa chất. Luận án đã nghiên cứu và tính toán các thông
số dịch động phù hợp cho khoáng sàng Khe Chàm- Mông Dương và áp dụng
cho tất cả vùng than Quảng Ninh, đưa ra giải pháp quy hoạch khai thác hỗn hợp
hầm lò – lộ thiên vùng Quảng Ninh. Việc di chuyển đất đá do khai thác cũng tác
động không nhỏ tới môi trường sống khu vực khai thác mỏ. Tuy nhiên, luận án
chỉ mới dừng ở việc nghiên cứu và đưa giải pháp cho tác động của dịch động đất
đá tại khu vực này chứ không phải tất cả các tác động đối với môi trường hay
công tác quản lý môi trường đối với hoạt động khai thác than.
- Một số các bài viết khác:
Lê Văn Chiến, Nguyễn Ngọc Khánh, Phạm Kiên Trung, Trường Đại học
4
Mỏ - Địa chất “Phương pháp đánh giá chất lượng công tác quản lý môi
trường trong hoạt động khai thác than tại các doanh nghiệp thuộc tập đoàn
công nghiên than – khoáng sản Việt Nam”.
TS. Nguyễn Thị Kim Ngân, Trường Đại học Mỏ - Địa chất “ Những bất
cập trong thực hiện quy định về phí bảo vệ môi trường đứng từ góc độ doanh
hoạt động khai thác than trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.
Đề xuất các định hướng, giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý
nhà nước về môi trường đối với hoạt động khai thác than trên địa bàn tỉnh
Quảng Ninh.
4. Phạm vi nghiên cứu
4.1. Phạm vi về nội dung
Nội dung thực trạng quản lý nhà nước về môi trường đối với hoạt động
khai thác than tại Quảng Ninh song do điều kiện về thời gian cũng như không
gian nên tôi xin phép được tập trung nghiên cứu vào những nội dung sau đây:
- Ban hành các văn bản pháp luật về môi trường đối với hoạt động khai
thác than của tỉnh Quảng Ninh;
- Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật môi trường về khai thác than
tại Quảng Ninh;
- Công tác cấp phép hoạt động khai thác than ở tỉnh Quảng Ninh;
- Công tác thanh, kiểm tra xử lý vi phạm về khoáng sản.
4.2. Phạm vi về không gian
Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề liên quan tại tỉnh Quảng Ninh.
4.3. Phạm vi về thời gian
Các số liệu, dữ liệu được khảo sát, điều tra từ năm 2011 đến năm 2016
và giải pháp phát triển giai đoạn đến năm 2020 và những năm tiếp theo.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp thu thập dữ liệu
Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu sơ cấp
6
Phương pháp thu thập dữ liệu: Sử dụng phương pháp điều tra bằng cách
gửi phiếu đến 300 người dân, tổ chức trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh. Kết quả
thu được 295 phiếu hợp lệ và 5 phiếu không hợp lệ. Mẫu phiếu điều tra khảo
năm 2020 và những năm tiếp theo.
8
Chương 1: MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ
MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC KHOÁNG SẢN
TRÊN ĐỊA BÀN CẤP TỈNH
1.1. MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KHOÁNG SẢN VÀ KHAI
THÁC KHOÁNG SẢN
1.1.1. Khái niệm, phân loại và đặc điểm của khoáng sản
a) Khái niệm và phân loại khoáng sản
Tài nguyên là các dạng vật chất hữu dụng cho con người, phục vụ đời
sống và phát triển kinh tế, xã hội.[14, tr.5]
Theo Luật khoáng sản số 60/2010/QH12: Khoáng sản là khoáng vật,
khoáng chất có ích được tích tụ tự nhiên ở thể rắn, thể lỏng, thể khí tồn tại
trong lòng đất, trên mặt đất, bao gồm cả khoáng vật, khoáng chất ở bãi thải
của mỏ[18, tr.2].
Khoáng sản là những dạng vật chất rất gần gũi và đóng vai trò to lớn
trong đời sống con người như sắt, than đá, kẽm, vàng, dầu khí, nước khoán
thiên nhiên,…Khoáng sản có thể tồn tại ở thể rắn, lỏng hoặc khí. Khoáng sản
hầu hết là tài nguyên không tái tạo được, là tài sản quan trọng của quốc gia,
phải quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả nhằm
đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển bền vững
kinh tế - xã hội trước mắt và lâu dài, bảo đảm quốc phòng, an ninh[15, tr.32].
Tài nguyên khoáng sản có thể hiểu là tích tụ tự nhiên của các khoáng
chất ở thể rắn, lỏng, khí ở trên hoặc ở trong vỏ trái đất, có hình thái, số lượng,
chất lượng đáp ứng những yêu cầu tối thiểu cho phép khai thác, sử dụng, có
khả năng đem lại giá trị kinh tế ở thời điểm hiện tại hoặc tương lai.
Tài nguyên khoáng sản thường tập trung trong một khu vực gọi là mỏ
Khoáng sản nhiên liệu hay nhiên liệu hóa thạch: dầu mỏ, hơi đốt, than
đót, than bùn,…
Khoáng sản phi kim: các dạng vật liệu xây dựng như đá vôi, cát, đất
sét,…, đá xây dựng như đá hoa cương và các khoáng sản phi kim khác.
Khoáng sản kim loại: các loại quặng kim loại đen, kim loại màu và kim
loại đá quý.
Nhiên liệu đá màu: ngọc thạch anh, đá má não,… và các loại đá quý
như kim cương,…
10
Thủy khoáng: nước khoáng và nước ngọt ngầm dưới đất.
Nhiên loại khoáng hóa: aparit và các muối khoáng khác như phophat,…
- Căn cứ theo trạng thái vật lý có thể phân thành:
Khoáng sản rắn: quặng kim loại đen, kim loại màu, đá,…
Khoáng sản lỏng: dầu mỏ, nước khoáng,…
Khoáng sản khí: khí đốt, khí trơ,…
b) Đặc điểm của khoáng sản
- Đặc điểm về phân bố khoáng sản: diện phân bố của khoảng sản được
phân ra làm nhiều loại, khu vực, trường, mỏ, thân khoáng sản.
Mỏ khoáng sản: là những phần vỏ trái đất có cấu trúc đặc trưng, trongd
dó khoáng sản tập trung trong các thân quặng. Các mỏ chia thành các loại lớn
trung bình, nhỏ và rất lớn.
Tỉnh khoáng sản: là phần vỏ trái đất liên quan tới một vùng miền hoặc
một đáy đại dương chứa các mỏ khoáng sản đặc trưng cho chúng.
Vùng khoáng sản: là vùng chiếm một phần tỉnh khoáng sản và được đặc
trưng bằng một tập hợp các mỏ khoáng sản xác định về thành phần và nguồn gốc
cùng thuộc một hoặc nhóm yếu tố kiến tạo quan trọng của khu vực.
Bể khoáng sản: đặc trưng cho các kiến trúc chứa dầu khí, than, khoáng
Khai thác khoáng sản là hoạt động nhằm thu hồi khoáng sản, bao gồm
xây dựng cơ bản mở, khai đào, phân loại, làm giàu và các hoạt động khác có
liên quan (khoản 7, Điều 2 Luật Khoáng sản năm 2010). Hoạt động khai thác
khoáng sản gây ra những tác hại rất lớn tới môi trường tự nhiên. Vì vậy, pháp
luật thường đặt ra những quy định có tính chất là điều kiện bắt buộc chủ giấy
phép khai thác khoáng sản phải tuân thủ trước khi được cấp giấy phép, trong
suốt cả quá trình khai thác và cả khi kết thúc khai thác.
Công nghiệp khai khoáng Việt Nam hình thành từ cuối thế kỷ 19 do
Pháp khởi xướng. Năm 1955, Việt Nam bắt đầu tiếp quản, duy trì, phát triển
các cơ sở khai thác và chế biến khoáng sản. Đến nay, Việt Nam đã tiến hành
điều tra cơ bản, thăm dò và phát hiện mới trên 5.000 điểm khoáng và mỏ.
Trong đó, một số loại khoáng sản có giá trị công nghiệp đã được đánh giá như
12
dầu – khí (1,2 tỷ – 1,7 tỷ m3), than (240 tỷ tấn), sắt (2 tỷ tấn), đồng (1 triệu
tấn kim loại), titan (600 triệu tấn khoáng vật nặng), bauxit (10 tỷ tấn), chì
kẽm, thiếc, apatít (2 tỷ tấn), đất hiếm (11 triệu tấn) và các khoáng sản làm vật
liệu xây dựng (52 tỷ m3).
Tuy vậy, với vùng thềm lục địa rộng lớn trên 1 triệu km2, việc thăm dò
và khai thác tài nguyên khoáng sản biển còn nhiều hạn chế, chủ yếu do vấn đề
năng lực thăm dò địa chất biển và vốn đầu tư. Trong các loại khoáng sản kể
trên, trừ các loại khoáng sản như dầu khí, than, sắt, titan apatit đã được thăm
dò tương đối cơ bản và chắc chắn; các khoáng sản kim loại còn lại gồm kim
loại màu và khoáng sản quý mới được thăm dò ở mức độ điều tra cơ bản (tìm
kiếm). Trước khi đầu tư khai thác, các doanh nghiệp đều phải tiến hành thăm
dò bổ sung để hạn chế rủi ro.
Việt Nam hiện có hơn 5000 điểm mỏ với khoảng 60 loại khoáng sản
khác nhau. Nguồn tài nguyên khoáng sản của Việt Nam tương đối phong phú
tháng đầu năm 2013, xuất khẩu quặng và khoáng sản tăng trưởng cả về lượng
và trị giá so với cùng kỳ năm trước, tăng lần lượt 100,86% và tăng 3,11%
tương đương với 1,4 triệu tấn, trị giá 140,5 triệu USD. Trong đó, Trung Quốc
là thị trường xuất khẩu chính, chiếm 91,2% lượng quặng và khoáng sản, với
1,2 triệu tấn, trị giá 101,7 triệu USD, tăng 129,29% về lượng và tăng 28,6%
về trị giá so với cùng kỳ năm 2012. Kế đến là thị trường Nhật Bản, với 20,7
nghìn tấn, trị giá 12,1 triệu USD, giảm 17,88% về lượng và giảm 36,85% về
trị giá. Thị trường xuất khẩu chủ yếu đứng thứ ba là Malaysia với 15,9 nghìn
tấn, trị giá 4,3 triệu USD, tăng 61,97% về lượng và tăng 31,59% về trị giá so
với cùng kỳ.
Các số liệu trên cho thấy, công nghiệp khai thác khoáng sản của Việt
Nam đang trên đà tăng trưởng mạnh và chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế
quốc gia.
14
b) Những tác động của hoạt động khai thác khoáng sản đến môi trường
và sự phát triển bền vững
Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện
tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của thế hệ tương
lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến
bộ xã hội và bảo vệ môi trường. [17, tr.46]
Theo quan điểm của các nhà kinh tế học, phát triển bền vững là quá trình
động mà trong đó sự phân bổ tài nguyên, phương hướng đầu tư, định hướng
công nghệ, luật pháp, thể chế và cơ chế ra quyết định được chỉ rõ không chỉ
đáp ứng nhu cầu của thế hệ hiện tại, mà còn đảm bảo khả năng đáp ứng nhu
cầu cho thế hệ tương lai.
Tác động môi trường của hoạt động khai khoáng bao gồm xói mòn, sụt
đất, mất đa dạng sinh học, ô nhiễm đất, nước ngầm và nước mặt do hóa chất
kiểm soát bụi nhưng vẫn cần nhiều nước để rửa than.
Bên cạnh đó, việc cung cấp nước ngầm có thể bị ảnh hưởng do khai mỏ
lộ thiên. Những tác động này bao gồm rút nước có thể sử dụng được từ những
túi nước ngầm nông; hạ thấp mực nước ngầm của những vùng lân cận và thay
đổi hướng chảy trong túi nước ngầm, ô nhiễm túi nước ngầm có thể sử dụng
được nằm dưới vùng khai mỏ do lọc và thẩm nước chất lượng kém của nước
mỏ, tăng hoạt động lọc và ngưng đọng của những đống đất từ khai mỏ. Ở đầu
có than hoặc chất thải từ khai thác than, tăng hoạt động lọc có thể tăng chảy
tràn của nước chất lượng kém và xói mòn của những đống phế thải, nạp nước
chất lượng kém vào nước ngầm nông hoặc đứa nước chất lượng kém vào
những suối của vùng lân cận dẫn đến ô nhiễm cả nước mặt lẫn nước ngầm của
những vùng này. Những hồ được tạo ra trong quá trình khai thác than lộ thiên
cũng có thể chứa nhiều a xít nếu có sự hiện diện của than hay chất phế thải
chứa than, đặc biệt là những chất này gần với bể mặt và chứa pi rít.